Câu 09: Chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em thời kỳ 2001-2010 và quyền trẻ em

By luctranvan

Câu 09: Chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em thời kỳ 2001-2010
Đỗ Nguyên Phương
 

chúng ta đang ở trong giai đoạn giữa hai thế kỷ và hai thiên niên kỷ. Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị các chiến lước phát triển kinh tế xã hội của đất nước cho giai đoạn 2001 - 2010. Trong bối cảnh chung của đất nước Ngành Y tế cũng đang chuẩn bị các định hướng chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ (BVSK) nhân dân giai đoạn này trong đó có vấn đề chăm sóc sức khoẻ trẻ em (CSSKTE).

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhà nước ta đối với công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em không tách rời các quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhà nước đối với công tác CSSK nhân dân đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV (khoá VII) về "một số vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và BVSK nhân dân" và Nghị quyết 37 của Chính phủ về "Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và BVSK nhân dân đến năm 2000 2020". Riêng với công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em chúng tôi thấy cần đặc biệt nhấn mạnh một số vấn đề sau:

1. Trẻ em là những người làm chủ đất nước trong tương lai. Đảng và Nhà nước ta luôn muốn tạo cho trẻ em ruột cuộc sống vật chất và tinh thần tốt nhất chuẩn bị cho trẻ em hành trang đầy đủ cả về tri thúc và sức khoẻ từ khi còn trong bào thai đến khi trưởng thành. Muốn cho giống nòi ngày càng tốt thì phải quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của trẻ em. Tình trạng nghèo đói và chậm phát triển kinh tế xã hội của đất nước cản trở lớn đến điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em. Ngược lai một thế hệ trẻ em kém phát triển cả về trí lực và thể lực thì sẽ không thúc đẩy được sự phát triển của đất nước mà còn làm chậm tốc độ phát triển do đó phải dành nguồn lực đầu tư thích đáng cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Thực hiện công bằng trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em vừa là bản chất nhân đạo vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong khi các thành phố lớn các khu vực có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội trẻ em được chăm sóc và giáo dục tốt thì tình trạng thiếu ăn suy dinh dưỡng thất học hiện nay tập trung chủ yếu tại các vùng nghèo vùng sâu vùng xa là những nơi khó tiếp cận điều kiện kinh tế còn nghèo như miền núi phía Bắc Tây Nguyên và các huyện xã miền núi của miền Trung một số vùng sâu vùng xa của đồng bằng sông Cửu Long... Bằng các cơ chế chính sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng tạo mọi điều kiện để tất cả trẻ em đều được bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục tốt.

3. Phải thực hiện xã hội hoá công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nhận thức của xã hội về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em còn hạn chế nhất và các bà mẹ là những người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục trẻ em. Nghèo đói thiếu kiến thức nuôi nấng dạy dỗ trẻ em môi trường sống bị ô nhiễm bệnh tật... đều có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể lực và trí lực của trẻ em. Vì vậy công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được coi là nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là ưu tiên thường xuyên đối với các cấp Đảng chính quyền và có sự phối hợp hành động của các Ngành các đoàn thể và sự tham gia tự giác của mỗi gia đình cũng như toàn thể cộng đồng.

4. Phải coi trọng và thực hiện nghiêm quyền được sống và phát triển của trẻ em trong một môi trường lành mạnh; chống mọi biểu hiện xâm hại đến quyền của trẻ em. Thông qua các phương tiện truyền thông làm cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu và thực hiện đúng Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

 

Tóm lại: Việc Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội

 


Quy định về quyền cơ bản của trẻ em trong việc đăng ký khai sinh?

 

Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em: Nghị định số 36/2005/NÐ-CP ngày 17-3-2005 của Chính phủ quy định:Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Việc khai sinh cho trẻ em được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

 

10 Quyền Giáo dục Cơ bản của Trẻ em

Nếu bạn cho rằng quyền giáo dục cơ bản chỉ là vấn đề của trẻ em nông thôn và vùng sâu vùng xa và trẻ em nghèo bạn nên nghĩ lại. Nếu bạn cho rằng đây chỉ là nội dung của Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em thuộc về trách nhiệm của Nhà nước của các cấp các ngành quá xa xôi và không liên quan gì đến bản thân bạn con cái của bạn và những người xung quanh bạn cũng nên nghĩ lại. Bài viết sau đây của Rosa-María Torres sẽ giúp bạn nhận thức được những ý nghĩa vô cùng thiết thân và sâu sắc của quyền này đối với chính bản thân mỗi người con em của chính chúng ta và chính ngôi trường nơi bạn hoặc con em bạn học và của cộng đồng và xã hội nơi bạn và gia đình bạn đang sống.

Công ước các quyền của trẻ em (1989) thừa nhận rằng giáo dục là quyền của mọi trẻ em. Bản Tuyên bố Thế giới về Giáo dục cho mọi người (1990) và Hội nghị Thượng đỉnh vì Trẻ em (1990) đã khẳng định rằng tầm nhìn mở rộng về quyền giáo dục cơ bản là nền tảng cho việc học tập của mọi cá nhân.

 

Nếu chúng ta cho rằng giáo dục cơ bản là quyền thiết thân của trẻ em điều đó có hàm ý gì?

 

1. Quyền được là trẻ con được vui chơi và hưởng sự vui chơi được bảo vệ khỏi sự bóc lột lao động trẻ em quyền được có đủ thời gian để đến trường và ở lại trường làm bài tập và học tập. Quyền được có một ngôi nhà và một gia đình; quyền được có một ngôi trường gần nhà có một giáo viên yêu quý trẻ em và say mê dạy học có quyền được hưởng một nền giáo dục chuẩn bị cho các em không chỉ bước vào tuổi trưởng thành mà còn quan trọng nhất là cho các em một tuổi thơ hạnh phúc.

 

2. Quyền được học trong trường và bên ngoài nhà trường. Quyền được tò mò được hỏi và được trả lời có quyền nghi vấn tư duy và tranh luận có quyền mắc lỗi có quyền được người khác hỏi ý kiến và được tham dự có quyền biểu đạt bản thân một cách tự nhiên và tự do được người khác lắng nghe và tôn trọng ý kiến có quyền bất đồng ý kiến tưởng tượng và sáo tạo có quyền học để học. Có quyền được có lòng tự trọng được cha mẹ và thầy cô đặt vào mình nhiều điều trông đợi có quyền cảm thấy vừa tự tin vừa được thách thức về năng lực của bản thân và nhận được sự khen ngợi và khích lệ cho những tiến bộ dù là nhỏ nhất.

3. Có quyền được liên tục học tập ngay từ lúc chào đời một sự liên tục không thỏa hiệp với bất cứ hạn chế nào chỉ trừ chính mối quan tâm và năng lực học của trẻ. Vì những nền tảng của cá tính và tri thức được hình thành từ những năm đầu tiên của cuộc đời và vì đó là thời đoạn diễn ra sự phát triển nhận thức quan trọng nhất và kỳ diệu nhất quyền thiết thân nhất về giáo dục cơ bản của trẻ em chính là quyền được có một khởi đầu thuận lợi cho cuộc sống. Quyền có một tuổi ấu thơ gieo những hạt mầm tốt đảm bảo cho sự lớn khỏe và phát triển trong tương lai.

 

4. Quyền được có một nền học tập thoáng mở ở nhà ở trường trong đời sống hàng ngày trong vui chơi trong tương tác với bạn bè thông qua phương tiện truyền thông đại chúng và trong việc các em tự khám phá thế giới. Quyền được hưởng thụ thư viện sân thể thao bảo tàng công viên vườn bách thú rạp xiếc; quyền được tiếp cận sách vở báo chí truyện tranh tưởng tượng chuyện cổ tích bách khoa toàn thư từ điển băng hình video phim và tác phẩm nghệ thuật; quyền được học không chỉ ở người lớn mà còn cả những trẻ em khác. Quyền được học không chỉ ở người khác mà còn học từ chính trải nghiệm và sai lầm của bản thân từ việc suy ngẫm và bàn luận.

 

5. Quyền được tới trường và ở trường đủ thời gian cần thiết để phát triển tri thức kỹ năng và thái độ cần thiết để sinh tồn quyền được hiểu biết về cơ thể của bản thân và bảo vệ sức khỏe của chính mình quyền được học về văn hóa và gốc rễ của mình; được biểu đạt bản thân thông qua nói và viết; được cân nhắc và giải quyết những vấn đề cơ bản của đời sống hàng ngày; quyền được hiểu kỹ hơn về chính mình và về thế giới xung quanh; quyền được bảo vệ môi trường; quyền được đón nhận những giá trị công lý và đoàn kết; được biết về những quyền và nghĩa vụ của mình; quyền được xây dựng nền tảng cho lòng tự trọng và niềm tự tin và quyền được tiếp tục học mãi.

 

6. Quyền được có một nền giáo dục thiết kế đặc biệt cho trẻ em trong đó tất cả mọi thứ từ quan hệ nội dung và phương những toà nhà và không gian lịch học và thời gian biểu các quy tắc và chuẩn bị -- đều được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của trẻ em chứ không phải của người lớn. Quyền có một nền giáo dục tôn trọng tri thức quan điểm và ước mơ của trẻ. Một nền giáo dục dựa trên niềm vui âm nhạc và vui chơi ngạc nhiên và khám phá di động và tiếng cười chúng không phải là những phụ phẩm kéo theo mà chính là những nguyên liệu gốc sử dụng trong giảng dạy và học tập.

 

7. Quyền được có một nền giáo dục chất lượng và thực tế hướng tới việc học hiểu biết rõ về tầm quan trọng không chỉ của khối lượng mà còn cách thức và chính những nội dung mình sẽ được học. Quyền được có một nền giáo dục hoàn toàn vắng bóng định kiến và thành kiến một nền giáo dục đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và kỳ thị giới tôn trọng sự khác biệt và thừa nhận giá trị của ngôn ngữ và văn hóa riêng của chính trẻ em; một nền giáo dục nhấn mạnh những gì trẻ em biết và có thể làm chứ không phải những gì trẻ không biết và không thể làm; một nền giáo dục ưu tiên sự hợp tác hơn là năng lực đối thoại hơn là độc thoại làm hơn là nói; một nền giáo dục nhằm đạt được ước mơ căn bản của bất kỳ một phụ huynh tử tế và bất kỳ một giáo viên đức hạnh nào: trẻ em và người học phải trở nên tốt đẹp hơn chính bản thân mình.

8. Quyền được có những điều kiện học tập tối thiểu cần thiết để trẻ có thể tận dụng được nhà trường và các cơ hội giáo dục khác và phát triển trọn vẹn khả năng của trẻ. Quyền được có một nền giáo dục cơ bản hỗ trợ mỗi em trai và em gái trong việc đòi hỏi cộng đồng và xã hội của mình cung cấp cho các em không chỉ trường học miễn phí giáo viên được đào tạo chương trình học thực tế và những tư liệu học tập cần thiết mà còn cả những điều kiện kinh tế xã hội và thương yêu không thể thiếu được: dinh dưỡng chăm sóc sức khỏe nhà ở đảm bảo và trên hết sự tôn trọng lòng yêu thương và nâng đỡ tình cảm và một môi trường chung ổn định an toàn và thanh bình.

 

9. Quyền được có cha mẹ cũng được hưởng thụ nền giáo dục cơ bản bởi vì điều này là tối quan trọng cho sự sinh tồn bình an giáo dục và triển vọng tương lai của trẻ. Quyền được có cha mẹ tiếp cận đầy đủ thông tin nhận thức rõ về tầm quan trọng của giáo dục đối với cả con trai lẫn con gái tôn trọng sự vui chơi của con sẵn lòng đối thoại và thuyết phục thay vì trừng phạt. Quyền được có cha mẹ có học vấn trân trọng nỗ lực học tập biết phân biệt giữa giảng dạy có chất lượng và kém chất lượng tham gia vào công việc nhà trường và đồng thuận trong việc đòi hỏi một nền giáo dục có chất lượng. Quyền được có cha mẹ có kiến thức về quyền và nghĩa vụ của chính mình và có sự tự tin và những kiến thức cơ bản để giúp con cái mình trưởng thành học tập và phát triển.

 

10. Quyền được có một nền thông tin đại chúng có trách nhiệm chú trọng đến nhu cầu của trẻ em có khả năng bổ sung và làm cho giáo dục được phong phú hơn: một mạng lưới truyền thông giúp kết nối trẻ ở thành phố với đồng quê và trẻ ở nông thôn với đô thị; mở mang tầm nhìn cho các em về thế giới và đưa các em tới những hiện thực khác đất nước khác và thời đại khác; mở ra cho các em những khả năng và hạn chế của khoa học kỹ thuật hiện đại; cho các em thấy sự vĩ đại cũng như nhỏ nhoi của loài người; xây dựng cho các em năng lực thưởng thức nghệ thuật khoa học và văn hóa thế giới; và vun trồng một thiên hướng hòa bình không bạo lực vị tha đoàn kết và công lý. Giáo dục cơ bản là quyền phổ quát. Quyền này hỗ trợ cho mọi trẻ em: trai và gái giàu và nghèo thành thị thông thôn và vùng sâu vùng xa trẻ có tật trẻ phải đi làm trẻ em người bản địa và các dân tộc thiểu số trẻ có gia đình và trẻ đường phố và những trẻ em buộc phải sơ tán và chuyển dịch vì chiến tranh.
                        Theo: "Tin tức Giáo dục" Bản Tin giáo dục của UNICEF 1995.

 




LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM (09:14 03/12/2005)

LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

 

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Chương I

NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Trẻ em

Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh đối tượng áp dụng

1. Luật này quy định các quyền cơ bản bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Luật này được áp dụng đối với cơ quan nhà nước tổ chức chính trị tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp tổ chức xã hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp tổ chức kinh tế đơn vị sự nghiệp đơn vị vũ trang nhân dân gia đình và công dân Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan tổ chức gia đình cá nhân); tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình cộng đồng.

2. Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình tự kiếm sống nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang.

3. Gia đình thay thế là gia đình hoặc cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

4. Cơ sở trợ giúp trẻ em là tổ chức được thành lập để bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điều 4. Không phân biệt đối xử với trẻ em

Trẻ em không phân biệt gái trai con trong giá thú con ngoài giá thú con đẻ con nuôi con riêng con chung; không phân biệt dân tộc tín ngưỡng tôn giáo thành phần địa vị xã hội chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ đều được bảo vệ chăm sóc và giáo dục được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Trách nhiệm bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình nhà trường Nhà nước xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan tổ chức gia đình cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan tổ chức gia đình cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 6. Thực hiện quyền của trẻ em

1. Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện.

2. Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Cha mẹ bỏ rơi con người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;

2. Dụ dỗ lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi

3. Dụ dỗ lừa dối ép buộc trẻ em mua bán vận chuyển tàng trữ sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán cho trẻ em sử dụng rượu bia thuốc lá chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

4. Dụ dỗ lừa dối dẫn dắt chứa chấp ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em

5. Lợi dụng dụ dỗ ép buộc trẻ em mua bán sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực đồi trụy; làm ra sao chép lưu hành vận chuyển tàng trữ văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất kinh doanh đồ chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em

6. Hành hạ ngược đãi làm nhục chiếm đoạt bắt cóc mua bán đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của người khác

7. Lạm dụng lao động trẻ em sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động

8. Cản trở việc học tập của trẻ em

9. áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm hạ thấp danh dự nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật

10. Đặt cơ sở sản xuất kho chứa thuốc trừ sâu hoá chất độc hại chất dễ gây cháy nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em cơ sở giáo dục y tế văn hoá điểm vui chơi giải trí của trẻ em.

Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình; chủ trì phối hợp với các bộ cơ quan ngang bộ cơ quan thuộc Chính phủ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Y tế Bộ Văn hoá - Thông tin Uỷ ban Thể dục Thể thao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ ngành có liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em theo sự phân công của Chính phủ.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

Điều 9. Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em bao gồm ngân sách nhà nước viện trợ quốc tế ủng hộ của cơ quan tổ chức cá nhân ở trong nước nước ngoài và các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 10. Hợp tác quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Nhà nước có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em với các nước tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng tôn trọng chủ quyền phù hợp với pháp luật mỗi nước và thông lệ quốc tế.

2. Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm:

a) Xây dựng và thực hiện các chương trình dự án hoạt động về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

b) Tham gia các tổ chức quốc tế; ký kết gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

c) Nghiên cứu ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại phục vụ công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

d) Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; trao đổi thông tin và kinh nghiệm về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

4. Các tổ chức quốc tế liên quan đến bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ngoài được hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Chương II

CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM

Điều 11. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

1. Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch.

2. Trẻ em chưa xác định được cha mẹ nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha mẹ theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng

Trẻ em có quyền được chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển thể chất trí tuệ tinh thần và đạo đức.

Điều 13. Quyền sống chung với cha mẹ

Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ.

Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em.

Điều 14. Quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm và danh dự

Trẻ em được gia đình Nhà nước và xã hội tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm và danh dự.

Điều 15. Quyền được chăm sóc sức khoẻ

1. Trẻ em có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.

2. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu được khám bệnh chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.

Điều 16. Quyền được học tập

1. Trẻ em có quyền được học tập.

2. Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí.

Điều 17. Quyền vui chơi giải trí hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch

Trẻ em có quyền vui chơi giải trí lành mạnh được hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch phù hợp với lứa tuổi.

Điều 18. Quyền được phát triển năng khiếu

Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu. Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.

Điều 19. Quyền có tài sản

Trẻ em có quyền có tài sản quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.

Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

1. Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em được bày tỏ ý kiến nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm.

2. Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.

Điều 21. Bổn phận của trẻ em

Trẻ em có bổn phận sau đây:

1. Yêu quý kính trọng hiếu thảo với ông bà cha mẹ; kính trọng thầy giáo cô giáo; lễ phép với người lớn thương yêu em nhỏ đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu người khuyết tật tàn tật người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng của mình

2. Chăm chỉ học tập giữ gìn vệ sinh rèn luyện thân thể thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông giữ gìn của công tôn trọng tài sản của người khác bảo vệ môi trường

3. Yêu lao động giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình

4. Sống khiêm tốn trung thực và có đạo đức; tôn trọng pháp luật; tuân theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh gia đình văn hoá; tôn trọng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

5. Yêu quê hương đất nước yêu đồng bào có ý thức xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế.

Điều 22. Những việc trẻ em không được làm

Trẻ em không được làm những việc sau đây:

1. Tự ý bỏ học bỏ nhà sống lang thang

2. Xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự tài sản của người khác; gây rối trật tự công cộng

3. Đánh bạc sử dụng rượu bia thuốc lá chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

4. Trao đổi sử dụng văn hoá phẩm có nội dung kích động bạo lực đồi trụy; sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh.

Chương III

TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Điều 23. Trách nhiệm đăng ký khai sinh

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.

2. Uỷ ban nhân dân xã phường thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; vận động cha mẹ người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.

3. Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh.

Điều 24. Trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng

1. Cha mẹ người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em; khi gặp khó khăn tự mình không giải quyết được có thể yêu cầu và được cơ quan tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em.

2. Cha mẹ người giám hộ các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ hạnh phúc tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

3. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm chăm lo chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi.

4. Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên có trách nhiệm chăm sóc giáo dục con theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ

1. Cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống chung với mình.

2. Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thì việc giao nhận trẻ em làm con nuôi đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam phải theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp trẻ em có cha mẹ chấp hành hình phạt tù trong trại giam mà không còn nơi nương tựa thì Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em tại gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em.

Điều 26. Trách nhiệm bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự

1. Gia đình Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em.

2. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Trách nhiệm bảo vệ sức khỏe

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe tiêm chủng khám bệnh chữa bệnh cho trẻ em.

2. Cơ sở y tế công lập có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu phòng bệnh chữa bệnh cho trẻ em.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ chức y tế học đường.

Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng tránh bệnh học đường và các bệnh khác cho trẻ em.

4. Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế đa dạng hoá các loại hình dịch vụ khám bệnh chữa bệnh; có chính sách miễn giảm phí khám bệnh chữa bệnh và phục hồi chức năng cho trẻ em; bảo đảm kinh phí khám bệnh chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi.

Trong cân đối kế hoạch ngân sách hàng năm của Bộ Y tế và của Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) Chính phủ dành riêng một khoản ngân sách để bảo đảm cho việc khám bệnh chữa bệnh không phải trả tiền cho trẻ em dưới sáu tuổi ở các cơ sở y tế công lập trung ương và địa phương.

5. Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân hoạt động nhân đạo từ thiện ủng hộ kinh phí chữa bệnh cho trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo.

Điều 28. Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập

1. Gia đình Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.

2. Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức tri thức thẩm mỹ thể chất giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên cơ sở vật chất thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục.

4. Người phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường phải được đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ có sức khoẻ phẩm chất đạo đức tốt yêu nghề yêu trẻ được tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ.

5. Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non giáo dục phổ thông; chính sách miễn giảm học phí cấp học bổng trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.

Điều 29. Trách nhiệm bảo đảm điều kiện vui chơi giải trí hoạt động văn hóa nghệ thuật thể dục thể thao du lịch

1. Gia đình nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi giải trí hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch phù hợp với lứa tuổi.

2. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quy hoạch đầu tư xây dựng điểm vui chơi giải trí hoạt động văn hóa nghệ thuật thể dục thể thao cho trẻ em thuộc phạm vi địa phương.

Không được sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập sinh hoạt vui chơi giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em.

3. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ trẻ em vui chơi giải trí.

4. Trên xuất bản phẩm đồ chơi chương trình phát thanh truyền hình nghệ thuật điện ảnh nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em thì phải thông báo hoặc ghi rõ trẻ em ở lứa tuổi nào không được sử dụng.

Điều 30. Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu

1. Gia đình nhà trường và xã hội có trách nhiệm phát hiện khuyến khích bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em.

2. Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em; tạo điều kiện cho nhà văn hoá thiếu nhi nhà trường và tổ chức cá nhân thực hiện việc bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em.

Điều 31. Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

2. Cha mẹ người giám hộ hoặc cơ quan tổ chức hữu quan phải giữ gìn quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 32. Trách nhiệm bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

1. Gia đình Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em.

2. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi.

Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình cơ quan tổ chức có trách nhiệm:

1. Tuyên truyền vận động giáo dục về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

2. Phát triển phúc lợi xã hội cho trẻ em tạo cơ hội thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất trí tuệ tinh thần và đạo đức

3. Cung cấp dịch vụ chăm sóc trợ giúp trẻ em.

Điều 34. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm:

a) Tuyên truyền giáo dục đoàn viên hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em

b) Vận động gia đình xã hội thực hiện tốt việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

c) Chăm lo bảo vệ quyền lợi của trẻ em giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em.
2. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức hữu quan để tổ chức hướng dẫn việc nuôi con khoẻ dạy con ngoan.

3. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn hoạt động của thiếu niên nhi đồng; phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

Điều 35. Trách nhiệm của cơ quan thông tin tuyên truyền

1. Tuyên truyền phổ biến đường lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Giới thiệu mô hình điển hình tiên tiến người tốt việc tốt trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; phát hiện phê phán hành vi vi phạm quyền của trẻ em trẻ em vi phạm những việc không được làm.

Điều 36. Trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật

1. Thực hiện hoặc phối hợp với cơ quan tổ chức hữu quan thực hiện việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em; chủ động phòng ngừa kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Phối hợp với gia đình nhà trường và xã hội để giáo dục đối với những trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật.

3. Việc xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ để trẻ em nhận thấy sai lầm sửa chữa sai lầm và tiến bộ.

Điều 37. Trách nhiệm của Nhà nước

1. Nhà nước có chính sách đầu tư thực hiện xã hội hóa mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho trẻ em là con thương binh liệt sỹ người có công trẻ em dân tộc thiểu số trẻ em của hộ nghèo trẻ em cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các quyền của trẻ em; có chính sách hỗ trợ gia đình thực hiện trách nhiệm bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em của các gia đình chưa có hộ khẩu thường trú được đăng ký khai sinh học tập và chăm sóc sức khoẻ tại nơi mà cha mẹ đang làm việc sinh sống.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát triển mạng lưới trường học cơ sở y tế nhà văn hóa cơ sở thể thao điểm vui chơi giải trí cho trẻ em; khuyến khích tổ chức cá nhân thành lập cơ sở tư vấn cho trẻ em cha mẹ người giám hộ và nhân dân về việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 38. Bảo trợ các hoạt động vì sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nhà nước bảo trợ các công trình khoa học và công nghệ các tác phẩm văn học nghệ thuật mọi sáng kiến việc làm có lợi cho sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; khuyến khích các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế dành một phần quỹ phúc lợi hoặc lợi nhuận vào việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 39. Quỹ bảo trợ trẻ em

1. Quỹ bảo trợ trẻ em được thành lập nhằm mục đích vận động sự đó

 


 

More...

Câu 08: Một người cán bộ Đảng viên – công chức (Là cán bộ lãnh đạo - quản lý) sinh con thứ 03 đúng hay sai ?

By luctranvan

Một số giải pháp

Thực trạng và đặc điểm nêu trên của dân số Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt ra cho công tác dân số của nước ta nhiều cơ hội và thách thức mới. Để củng cố phát huy những thành tựu đã đạt được; đồng thời tiếp tục có được những thành công mới trong công tác dân số thời gian tới cần tập trung giải quyết một số vấn đề cốt yếu sau:

- Thực hiện tốt đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp - thôn thôn - nông dân trong giai đoạn mới bởi vì đa số dân cư nước ta hiện nay đang sinh sống ở nông thôn.

- Xây dựng và thực hiện chính sách dân số phải gắn liền với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân.

- Ưu tiên giải quyết vấn đề sức khỏe sinh sản nhất là sức khỏe sinh sản vị thành niên.

- Xây dựng và thực hiện chính sách di dân thống nhất vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa có tầm nhìn lâu dài; chủ động quy hoạch dân số tích cực kiểm soát và can thiệp điều tiết thực trạng di dân tự do tự phát đang diễn ra hiện nay.

- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng các khu dân cư theo quy hoạch; đặc biệt đầu tư thích đáng cho việc bảo vệ môi trường nhằm góp phần bảo đảm phát triển bền vững.

- Công tác dân số hiện nay cần chuyển mạnh trọng tâm từ cách tiếp cận kế hoạch hóa gia đình sang chủ động chăm sóc sức khỏe sinh sản.

- Quan tâm hơn nữa và có chính sách mới về đời sống điều kiện sinh hoạt và dân số - sức khỏe sinh sản đối với những vùng di dân những khu công nghiệp khu chế xuất và khu đô thị mới...

Để thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược dân số Việt Nam thời gian tới trên cơ sở nhận diện thực trạng và những đặc trưng dân số nước ta hiện nay cùng với việc xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách dân số mới phù hợp và đồng bộ thì một vấn đề cấp thiết là cần kiện toàn ổn định và thống nhất bộ máy thực hiện công tác dân số chuyên trách theo mô hình tổ chức quản lý mới từ trung ương đến cơ sở. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để chúng ta có được những thành công mới về công tác dân số trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế./. 

 

Lỡ sinh con thứ ba đúng hay sai ? Vì sao ?

Theo chính sách hiện nay của Nhà nước ta là vận động mỗi gia đình chỉ nên có một đến hai con tuy nhiên cũng có một số trường hợp vì lý do nào đó mà lỡ... sinh con thứ ba. Vậy nếu lỡ sinh con thứ ba thì pháp luật có quy định biện pháp chế tài gì không?

Vì:

- Theo Pháp lệnh Dân số Nghị định số 104/2003-NĐ-CP ngày 16/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số và các văn bản pháp luật hiện hành không quy định chế tài hoặc biện pháp xử lý kỷ luật đối với người sinh con thứ ba trở lên. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 và Điểm a Khoản 3 Điều 17 của Nghị định số 104/2003/NĐ-CP nói trên thì mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ thực hiện quy mô gia đình ít con - có một hoặc hai con. Cũng tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 của nghị định này thì các cơ quan tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế điều lệ hoặc các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật để thực hiện mục tiêu của chính sách dân số.

- Mới đây Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Trong đó: "...Huy động toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình. Nâng cao trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp của các cấp các ngành đoàn thể nhân dân đồng thời huy động các tổ chức xã hội và các thành phần kinh tế tích cực tham gia công tác này. Tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho mỗi gia đình mỗi người dân tự nguyện thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Cán bộ đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện đồng thời tuyên truyền vận động gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ xem xét đề bạt đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo của các cơ quan Đảng cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội. Xử lý nghiêm những cán bộ đảng viên vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và chỉ thị số 50-CT/TW ngày 6/3/1995...".

Như vậy mặc dù pháp luật không quy định hình thức chế tài đối với người sinh con thứ ba nhưng theo tinh thần các văn bản trên thì "Xem việc thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ xem xét đề bạt đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo...".


 

 

More...

Câu 07: Quan điểm của Đảng ta về chính sách XH

By luctranvan

Câu 07: Quan điểm của Đảng ta về chính sách XH

Mọi chính sách - XH của Đảng đều phải hướng tới lợi ích của nhân dân

Ôn lại chặng đường 80 năm lịch sử vẻ vang của Đảng và của Cách mạng Việt Nam Tổng Bí thư Nông Đức mạnh nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử và thời đại đồng thời nhấn mạnh "gần 25 năm qua sự nghiệp đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Công cuộc đổi mới là cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc nhất trong thời kỳ mới".

Tổng Bí thư nêu rõ: Mục tiêu và nhiệm vụ lớn lao của Đảng Cộng sản Việt nam hiện nay là lãnh đạo đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh đưa đất nước quá độ lên Chủ nghĩ xã hội. Lý tưởng và mục tiêu cao cả đó xuyên suốt toàn bộ hoạt động thực tiễn của Đảng và nhân dân ta. Mỗi chủ trương chính sách bước đi cụ thể đều hướng tới lợi ích của nhân dân của dân tộc và đất nước phấn đấu thực hiện để đưa nước ta vượt qua mọi thách thức vươn lên mạnh mẽ vững chắc thực hiện bằng được mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 

Tổng Bí thư nhấn mạnh: Càng những lúc khó khăn Đảng Nhà nước càng phải chăm lo tốt hơn mọi mặt của đời sống nhân dân chú trọng các chính sách xã hội những hộ nghèo và người nghèo làm cho mọi người dân dù ở vùng miền nào của đất nước cũng có cuộc sống ngày càng được cải thiện về vật chất an lành về tinh thần. Đề cập đến công tác xây dựng Đảng Tổng Bí thư khẳng định: Chúng ta quyết tâm xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức đoàn kết nhất trí gắn bó mật thiết với nhân dân có phương thức lãnh đạo khoa học có đội ngũ cán bộ Đảng viên đủ phẩm chất và năng lực xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Tổng Bí thư kêu gọi: "Năm 2010 có ý nghĩa quan trọng là năm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Toàn Đảng toàn dân toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước trách nhiệm đối với đất nước và dân tộc mỗi người tham gia đóng góp trí tuệ công sức sáng kiến góp phần đưa đất nước vượt qua khó khăn thử thách ổn định và phát triển.


 

 

More...

Câu 06: quan điểm của Ðảng ta là xác định đúng vai trò quan trọng của sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe

By luctranvan

Câu 06: quan điểm  của Ðảng ta là xác định đúng vai trò quan trọng của sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe

 

quan điểm về chăm sóc sức khỏe của Ðảng ta là xác định đúng vai trò quan trọng của sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe. Xuất phát từ quan niệm con người là vốn quý quan trọng nhất trong sự nghiệp CNH HÐH chúng ta luôn nhấn mạnh sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội. Nhấn mạnh quan điểm này là để các cấp lãnh đạo của đảng và chính quyền luôn coi trọng chăm sóc sức khỏe trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cả đất nước và của mỗi địa phương.

Khi nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới là tập trung cho tăng trưởng kinh tế rất dễ xuất hiện tư tưởng coi nhẹ vai trò của sức khỏe coi sức khỏe là "của trời cho" chỉ biết sử dụng sức khỏe để làm kinh tế mà quên mất đầu tư cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Ðiều này cần được nhận thức đầy đủ không chỉ ở các nhà lãnh đạo các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Chính vì vậy chúng ta khẳng định đầu tư chăm sóc sức khỏe là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội hoạt động y tế là một trong những chính sách được ưu tiên hàng đầu và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN.

Ðiểm nổi bật thứ hai về quan điểm là khi bước vào đổi mới sự phân hóa giàu nghèo bắt đầu xuất hiện Ðảng sớm khẳng định tính chất công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Ðiều này thể hiện rõ nhất ở chỗ chúng ta phấn đấu xây dựng một nền y tế cho mọi người dân không phân biệt giàu nghèo không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số; không phân biệt sống ở nông thôn hay thành thị miền xuôi hay miền núi; đều được chăm sóc sức khỏe kể cả phòng bệnh lẫn thuốc men chữa bệnh và phục hồi chức năng.

Mặc dù khi chúng ta thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường xã hội có sự phân hóa giàu nghèo do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại nhưng nền y tế Việt Nam vẫn phải kiên trì theo đuổi định hướng này. Chúng ta luôn khẳng định tính chất nhân đạo của chăm sóc sức khỏe. Ðề cao tính chất nhân đạo của y tế đồng nghĩa với việc không bao giờ gắn y tế với mục đích thương mại như những ngành kinh tế hoặc một số ngành khác. Nghị quyết 46/NQ-T.Ư của Bộ Chính trị ngày 23-2-2005 đã chỉ rõ: "Ðổi mới hệ thống y tế theo hướng: công bằng hiệu quả và phát triển nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ và nâng cao sức khỏe với chất lượng ngày càng cao phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm người giàu với người nghèo người trong độ tuổi lao động với trẻ em người già công bằng trong đãi ngộ với cán bộ y tế".

Ðiểm đổi mới thứ ba về quan điểm là vấn đề xã hội hóa và đa dạng hóa ngành y tế Việt Nam. Năm 1993 Nghị quyết 04/NQ-T.Ư đã đề ra chủ trương "xã hội hóa y tế" và chỉ rõ: "Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân là trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt".

Thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế trong những năm qua chúng ta thấy đã có những thành tích nổi bật:

Ngoài y tế công lập tiếp tục được bổ sung và tăng cường chúng ta đã có nhiều cơ sở y tế tư nhân xuất hiện với các hình thức khác nhau.

Tuy vậy việc xã hội hóa y tế vẫn còn nhiều bất cập. Ðứng trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày một tăng mà khả năng đáp ứng có hạn. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa là một yêu cầu khách quan. Nghị quyết 46/NQ-T.Ư của Bộ Chính trị "về công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới" đã nêu rõ quan điểm "Xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với tăng cường đầu tư của nhà nước thực hiện tốt việc trợ giúp cho các đối tượng chính sách và người nghèo trong chăm sóc và nâng cao sức khỏe. Bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân mỗi gia đình và cộng đồng là trách nhiệm của các cấp ủy đảng chính quyền Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe".

Thông qua hoạt động thực hiện chủ trương xã hội hóa có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

- Cần phải xác định và hiểu đúng chủ trương xã hội hóa không được hiểu khái niệm này một cách phiến diện hay cực đoan. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể một mặt phát huy sự năng động và tích cực của mọi thành viên trong xã hội vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe mặt khác mới tránh được những khuynh hướng sai lầm trong việc "thương mại hóa" nền y tế.

- Cần nắm vững mục tiêu ưu tiên của xã hội hóa y tế: Trong giai đoạn hiện nay xã hội hóa y tế phải nhằm vào mục tiêu chính là phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo người có công với nước người thuộc diện chính sách và người thuộc diện khó khăn về mặt sức khỏe.

Bên cạnh việc vạch ra những quan điểm khẳng định bản chất chính trị của nền y tế của nhân dân chúng ta cũng tiếp tục khẳng định những quan điểm mang tính học thuật chủ yếu của y học và y tế Việt Nam. Ðó là: coi trọng công tác phòng bệnh kết hợp chặt chẽ giữa phòng bệnh một cách tích cực và chủ động với điều trị một cách chất lượng và toàn diện. Ðể khắc phục những mặt trái do cơ chế thị trường và đề phòng khuynh hướng đơn thuần chạy theo lợi nhuận do khám chữa bệnh mang lại dẫn đến coi nhẹ y tế dự phòng công tác y tế dự phòng lại càng phải được nhấn mạnh và coi trọng. Nghị quyết 37/NQ-CP đã chỉ rõ: "Dự phòng tích cực và chủ động là quan điểm xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam". Gần đây Nghị quyết 46/NQ-T.Ư đã nhấn mạnh việc "thực hiện chăm sóc sức khỏe toàn diện tức là gắn chặt phòng bệnh với chữa bệnh phục hồi chức năng và tập luyện thể dục thể thao". Ngoài ra việc gắn kết hợp Ðông y và Tây y đã được tiếp tục phát triển trên tất cả các mặt: thừa kế nghiên cứu lý luận ứng dụng và nuôi trồng dược liệu nhằm mục đích xây dựng một nền y học Việt Nam theo phương châm "khoa học dân tộc và đại chúng".

Tiếp tục coi trọng y tế cơ sở đồng thời từng bước hoàn thiện mạng lưới y tế. Mặt trận y tế nông thôn ngày nay luôn được coi là xương sống của y tế. Tuy chưa phân định rõ rệt về cơ cấu y tế cơ sở nhưng theo tinh thần Chỉ thị 06/CT-T.Ư của Ban Bí thư T.Ư Ðảng khóa IX chúng ta hiểu y tế cơ sở gồm y tế tuyến thôn ấp tuyến xã và tuyến huyện. Trong những năm đầu tiên của sự nghiệp đổi mới y tế nông thôn rơi vào khủng hoảng do các hợp tác xã nông nghiệp - chỗ dựa chính của các trạm y tế xã - bị tan rã. Nhưng chúng ta đã kịp thời đưa ra chủ trương phục hồi y tế cơ sở. Quyết định số 58/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 3-2-1994 đã quy định "Một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở" đã được nhiều người ví như "một trận mưa rào cho vùng nắng hạn lâu ngày". Chỉ thị 06/CT-T.Ư của Ban Bí thư Trung ương Ðảng khóa VIII ban hành ngày 20-1-2002 đã chỉ rõ: "Mạng lưới y tế cơ sở (gồm y tế thôn bản xã phường quận huyện) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất đảm bảo cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp góp phần thực hiện công bằng xã hội xóa đói giảm nghèo xây dựng nếp sống văn hóa trật tự an toàn xã hội tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa". Nhờ những quyết sách kịp thời này trong những năm qua những tuyến y tế cơ sở trong cả nước đều được tăng cường cán bộ cơ sở hạ tầng cả về số lượng lẫn chất lượng. Với sự có mặt của bác sĩ tại hơn 60% số xã trong toàn quốc ngành y tế là ngành đầu tiên đã đưa cán bộ có trình độ đại học về nông thôn mở đầu cho bước chuyển biến mới về chất của cán bộ ở các xã ở nông thôn. Việc phát triển mạnh mẽ y tế xã và y tế thôn bản kết hợp với việc hình thành mô hình Trung tâm y tế huyện ra đời trong những năm cuối của thập kỷ 80 và triển khai rộng rãi trong toàn quốc theo Nghị định 01/NÐ-CP (ban hành ngày 1-1-1998) trong thập kỷ 90 và những năm đầu của thập kỷ đầu tiên thế kỷ 21 là một thể hiện sinh động về thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu hay y tế phổ cập. Hiện nay phong trào "xây dựng y tế xã đạt chuẩn quốc gia" đã trở thành một phong trào sâu rộng trong y tế cơ sở của cả nước. Chúng ta cần tiến hành sơ kết và tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động này thành một hoạt động quan trọng và thường xuyên của tuyến y tế cơ sở như Chỉ thị 06/CT-T.Ư của Ban Bí thư T.Ư khóa IX đã chỉ ra. Bên cạnh y tế cơ sở chúng ta đã chú trọng phát triển hệ thống y tế chuyên sâu từ tuyến tỉnh trở lên. Tất cả các tỉnh đều đã có bệnh viện đa khoa trung tâm trung tâm y tế dự phòng trung tâm phòng chống các bệnh xã hội trung tâm chăm sóc bà mẹ trẻ em trung tâm giáo dục truyền thông trung tâm phòng chống sốt rét (ở những tỉnh mà 40% nhân dân sống trong vùng sốt rét lưu hành)... Với cơ sở và trang thiết bị ngày một tốt hơn. Một số tỉnh còn có các bệnh viện chuyên khoa bệnh viện đông y bệnh viện khu vực góp phần tạo ra một mạng lưới y tế đồng bộ tại tất cả các địa phương trong cả nước.

Ðẩy mạnh đào tạo nhân lực y tế đề cao khoa học và công nghệ: Ðể phát triển hệ thống y tế đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn mới ngay từ ngày đầu của thời kỳ đổi mới chúng ta đã quan tâm đến phát triển nhân lực y tế thông qua đào tạo đồng bộ các loại hình cán bộ y tế. Trước hết là phát triển hệ thống nhà trường: bao gồm mỗi tỉnh có một trường trung học y tế (hiện nay một số trường này đã trở thành cao đẳng y tế) các trường đại học y và dược. Hệ thống chức danh y tế cũng được hoàn thiện theo xu thế mới của y tế thế giới nhưng cũng phù hợp từng vùng và miền của nước ta (chỉ tiếp tục đào tạo y sĩ cho các tỉnh miền núi; mở thêm đào tạo bác sĩ cơ sở cho tuyến xã; phát triển hệ dài hạn và thu hẹp dần hệ chuyên tu hàm thụ; mở rộng hệ thống đào tạo bác sĩ cử tuyển cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số đào tạo điều dưỡng nữ hộ sinh trung học y tá thôn bản...). Chủ trương đưa bác sĩ về công tác ở tuyến xã đã làm chuyển hướng mạnh mẽ việc đào tạo bác sĩ theo hướng cộng đồng. Chính nhờ sự đổi mới chính sách đào tạo mà ngày nay chúng ta có thể cung cấp tương đối đủ nhân lực y tế cho tất cả các tuyến đặc biệt là tuyến huyện và tuyến xã. Vào thời kỳ những năm 80 của thế kỷ 20 mỗi huyện chỉ có hai ba bác sĩ nhiều huyện miền núi không có bác sĩ thì nay đa số các huyện đều có 10 bác sĩ trở lên (một số huyện có cả bác sĩ đã tốt nghiệp sau đại học) hơn 60% số xã đã có bác sĩ hơn 80% số xã đã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học hơn 80% số thôn bản có nhân viên hoặc y tá được đào tạo. Việc đào tạo sau đại học đã được đẩy mạnh với tất cả các loại hình đào tạo. Việc đưa các lớp chuyên khoa cấp I về địa phương có đủ điều kiện đào tạo đã vừa giúp cho học viên tại địa phương có điều kiện theo học để nâng tỷ lệ bác sĩ được đào tạo chuyên khoa của tuyến tỉnh vừa tạo điều kiện chấn chỉnh các sai phạm về kỹ thuật của tuyến dưới thông qua hình thức "cầm tay chỉ việc" của đội ngũ giáo viên do các trường đại học cử về. Ðội ngũ giáo sư phó giáo sư tiến sĩ thạc sĩ ngày càng tăng về số lượng và chất lượng so với những năm trước đổi mới. Trong 20 năm đổi mới khoảng cách giữa nền y học nước ta với các nước tiên tiến trong khu vực đã dần dần được thu hẹp: Ba trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội TP Hồ Chí Minh và Huế đã trở thành những chỗ dựa về kỹ thuật và đào tạo cán bộ chuyên khoa cho các tuyến dưới. Những kỹ thuật mổ tim hở nong mạch vành ghép thận mổ u não bằng "dao gamma"... đã không còn xa lạ đối với việc khám chữa bệnh. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị đã được đưa vào thực tiễn hoạt động của ngành đạt kết quả cao và đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc giải thưởng Nhà nước như "cụm công trình chiết xuất artemesinin từ thanh hao hoa vàng để chữa sốt rét" "cụm công trình nghiên cứu ghép tạng để áp dụng vào Việt Nam"... Thành công của việc khống chế dịch SARS đầu năm 2003 đã làm tăng uy tín của nền y học nước nhà trên trường quốc tế.

Ðổi mới cơ chế đầu tư cho y tế: Bên cạnh việc Nhà nước tăng đầu tư cho y tế qua ngân sách từng năm bảo hiểm y tế đã hình thành và từng bước được mở rộng diện bao phủ; giải pháp viện phí tuy là một "giải pháp tình thế" nhưng đã kịp thời tháo gỡ nhiều khó khăn cho việc chi tiêu phục vụ các dịch vụ y tế nhất là hoạt động khám chữa bệnh tại các bệnh viện. Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo sớm được quan tâm cụ thể thông qua tạo nguồn kinh phí cho hoạt động này. Thu phí phải đi kèm miễn phí (tức là thu viện phí ở người có khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh theo yêu cầu để có thêm điều kiện hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo). Nhiều loại quỹ dành cho việc khám chữa bệnh của người nghèo các hoạt động nhân đạo từ thiện hình thành và phát triển cùng với nhiều chủ trương chính sách cụ thể của Nhà nước đã thể hiện tinh thần "tương thân tương ái" trong việc chia sẻ của cộng đồng đối với những người bệnh thuộc diện khó khăn về kinh tế người bệnh ở vùng sâu vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống... Bên cạnh đó chúng ta đã chủ động vay vốn của các quỹ tiền tệ quốc tế (Ngân hàng thế giới Ngân hàng phát triển châu Á...) và một số chính phủ các nước kết hợp với vận động viện trợ của chính phủ các nước và các tổ chức NGO quốc tế số lượng ngân sách dành cho y tế ngày một tăng. Trong phân bổ ngân sách bên cạnh việc tính ngân sách theo đầu dân Nhà nước đã đặt ra hệ số ưu tiên cho đồng bào sống ở miền núi vùng sâu vùng xa. Bên cạnh việc phân bổ tài chính theo lãnh thổ Nhà nước còn đề ra các chương trình mục tiêu quốc gia do Bộ Y tế trực tiếp quản lý (như chương trình phòng chống sốt rét phòng chống lao phòng chống phong phòng chống bướu cổ phòng chống suy dinh dưỡng...) để tập trung nguồn lực cho một số công tác trọng điểm và vùng trọng điểm. Nhờ đổi mới trong đầu tư cho y tế các cơ sở y tế đã dần dần được trang bị tốt hơn cả về cơ sở hạ tầng lẫn trang thiết bị và đào tạo cán bộ. Nhiều công nghệ cao đã được thực hiện chẳng những ở các thành phố lớn mà bước đầu ngay tại một số bệnh viện đa khoa trung tâm của một số tỉnh như chẩn đoán hình ảnh sinh hóa - huyết học tự động mổ nội soi mổ sọ não...

Ðẩy mạnh sản xuất phân phối cung cấp thuốc. Trước khi bước vào đổi mới nước ta trong tình cảnh khan hiếm thuốc nghiêm trọng. Thuốc giả và thuốc kém chất lượng tràn lan. Khi đổi mới một chủ trương quan trọng của Ðảng và Nhà nước là ban hành chính sách quốc gia về thuốc với hai mục tiêu: Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân.

Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn có hiệu quả...

Với chủ trương này dần dần ngành công nghiệp dược trong nước và một mạng lưới lưu thông phân phối thuốc đã được hình thành và phát triển. Những chính sách mới trong sản xuất và kinh doanh thuốc lần lượt ra đời theo chủ trương này đã vừa làm cho thị trường thuốc dần dần ổn định và phát triển vừa làm cho chất lượng thuốc ngày càng cao. Nhà nước có chính sách thuế khuyến khích sản xuất thuốc trong nước. Ngày nay chúng ta có 30% số xí nghiệp thuốc trong cả nước đạt tiêu chuẩn "thực hành sản xuất thuốc tốt" (GMP) của ASEAN và Tổ chức Y tế thế giới sản xuất thuốc trong nước đã đủ cung cấp cho 40% nhu cầu thuốc thiết yếu và bước đầu có một số mặt hàng thuốc xuất khẩu. Công nghiệp dược luôn luôn đạt tỷ trọng phát triển cao so với các ngành công nghiệp khác. Ðã hình thành một mạng lưới phân phối thuốc kể cả đến tận vùng sâu vùng xa. Ngành y tế có trách nhiệm xây dựng và ban hành danh mục thuốc thiết yếu và Nhà nước có chính sách hỗ trợ giá thuốc để mọi người dân đặc biệt là người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa miền núi đều được cung cấp đủ thuốc thiết yếu cho phòng bệnh và chữa bệnh. Công tác thanh tra và kiểm tra chất lượng thuốc được coi trọng và thường xuyên tiến hành trên mọi địa bàn vì vậy đã góp phần ngăn chặn nạn thuốc giả và thuốc kém chất lượng. Gần đây chủ trương cổ phần hóa các xí nghiệp hóa - dược phẩm đã tạo ra sự chuyển biến tích cực mới trong sản xuất và lưu thông phân phối thuốc. Bên cạnh thuốc việc sản xuất vắc-xin phòng bệnh cũng được quan tâm: năm trong sáu loại vắc-xin của chương trình tiêm chủng mở rộng đã được sản xuất trong nước hiện nay chúng ta đã sản xuất thêm được nhiều loại vắc-xin mới đạt chất lượng cao (vắc-xin tả uống vắc-xin viêm não Nhật Bản B viêm gan B...). Coi trọng việc sản xuất trong nước tự lực trong phân phối và lưu thông thuốc vắc-xin và luôn đề cao chất lượng thuốc vắc-xin là những bài học quý giá trong thời kỳ mở cửa và phát triển cơ chế thị trường của nền y tế nước nhà.

Chính nhờ những đổi mới như trên phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của nhân dân ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Ngày nay tuổi thọ bình quân của nước ta đã đạt 71 3 tuổi tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 50% (năm 1990) xuống còn 34% (năm 2000) và 24% (năm 2005) tỷ lệ chết của trẻ em dưới 5 tuổi trong 1.000 trẻ được đẻ ra từ 81 phần nghìn (năm 1990) xuống còn 41 phần nghìn (năm 2000). Những thành tựu này đã góp một phần quan trọng trong việc nâng chỉ số HDI của nước ta từ mức dưới trung bình (0 498 năm 1991) lên mức trung bình (0 688 năm 2002) và xếp thứ 109/173 nước trong khi GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ xếp thứ 128/173 nước. Năm 2004 với chỉ số 0 691 nước ta xếp thứ 112/177 nước được điều tra. Năm 2005 Việt Nam được lên 4 bậc xếp thứ 108/177 nước được điều tra.

Nếu nhìn lại những năm khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới chúng ta mới thấy hết những cố gắng to lớn của Ðảng Nhà nước và nhân dân ta trong việc vượt qua những thử thách để vừa giữ vững bản chất nhân đạo của một nền y tế vừa khắc phục những khó khăn bất cập về chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và tạo nguồn đầu tư cho y tế. Trước mắt nền y tế Việt Nam vẫn còn nhiều thử thách và cam go một khi sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng tệ nạn xã hội và tư tưởng chạy theo lợi nhuận có xu hướng gia tăng. Nhưng với sự quyết tâm của toàn Ðảng và toàn dân trong việc xây dựng một xã hội "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh" chúng ta tin tưởng rằng nền y tế Việt Nam sẽ giữ vững bản chất nhân đạo và góp phần một cách xứng đáng trong việc trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH HÐH đất nước.


Chăm sóc sức khỏe nhân dân là trách nhiệm của các cấp các ngành

 

 

 

 

Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là trách nhiệm của tất cả các Bộ ngành các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương. Đó là nhấn mạnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại lễ kỷ niệm 55 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2010) và sơ kết 2 năm thực hiện điểm Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" do Bộ Y tế tổ chức ngày 24/2 tại Hà Nội.

Thay mặt Chính phủ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc Tết cán bộ viên chức toàn ngành đồng thời biểu dương những kết quả ngành Y tế đã đạt được  cùng với kết quả 2 năm thực hiện điểm Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.

Từ một ngành có cơ sở vật chất nghèo nàn trong những năm đầu giải phóng đến nay chúng ta đã xây dựng được một hệ thống y tế hoàn chỉnh rộng khắp từ Trung ương đến địa phương.

Thủ tướng đánh giá điều đáng tự hào là trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngành Y tế đã có những bước tiến bộ vượt bậc nhiều thành tựu về công nghệ y học của thế giới đã được ứng dụng và phát triển thành công ở Việt Nam tạo sự thay đổi lớn trong chất lượng khám chữa bệnh. Các chỉ tiêu về sức khỏe của nhân dân được nâng lên rõ rệt và cao hơn nhiều so với những nước có cùng trình độ phát triển và mức thu nhập bình quân đầu người như Việt Nam.  Ngành Y tế đã thanh toán được bệnh bại liệt khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh sởi ho gà bạch hầu; tỷ suất chết mẹ chết trẻ em giảm rõ rệt; tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã đạt 72 8 tuổi. Đặc biệt năm 2009 ngành Y tế đã hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch 4/4 chỉ tiêu do Quốc hội giao 15/15 chỉ tiêu do Chính phủ giao. Tuy nhiên đất nước ta cũng còn đối mặt với những thách thức to lớn. Đời sống nhân dân tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhiều người dân có thu nhập khá đủ khả năng chi trả các dịch vụ y tế nhưng đa số vẫn thuộc diện nghèo nên khi đau ốm vẫn cần có sự hỗ trợ của Nhà nước. Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp thiên tai lũ lụt xảy ra liên tiếp rét đậm kéo dài lũ quét xảy ra tại ở nhiều địa bàn không những gây thiệt hại nặng nề về kinh tế của người dân nông thôn mà còn gây ra những tác động không tốt cho sức khoẻ nhân dân nhất là người già trẻ em Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lưu ý trách nhiệm của ngành Y trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình hiện nay.

Nhấn mạnh đến một số nhiệm vụ trọng tâm Ngành Y tế cần tập trung triển khai thực hiện trong thời gian tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ rõ ngành Y tế phải  đổi mới cơ chế hoạt động cơ chế tài chính trong đó có tiền lương và BHYT trong ngành Y tế đẩy mạnh xã hội hoá công tác chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân; tăng cường công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhân tài cho Y tế; chú trọng nâng cao đạo đức và phẩm chất của người thầy thuốc là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của ngành Y tế.

Cùng với đó là tăng cường xã hội hoá đẩy nhanh tiến độ phát triển bệnh viện tư nhân tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong khám chữa bệnh cho nhân dân; đồng thời đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ để mọi người dân đều có cơ hội được chăm sóc sức khoẻ như nhau đặc biệt là người nghèo đồng bào dân tộc thiểu số trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách khác.

Ngành Y tế cần riển khai các giải pháp chủ động phòng chống dịch kiểm soát được các dịch bệnh không để dịch lớn xảy ra nhất là đối với các dịch bệnh đang có diễn biến phức tạp như cúm A/H1N1 cúm A/H5N1 và dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm...; đẩy mạnh phát triển sản xuất thuốc trong nước đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu vắc-xin và thuốc phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân...

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặc biệt lưu ý ngành Y tế phải thực hiện thật tốt sâu rộng hơn nữa Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; thực hiện đồng thời cả việc "học" và "làm" theo lời dạy của Bác "Thầy thuốc như mẹ hiền" phải thể hiện một cách cụ thể thiết thực trong hoạt động hàng ngày của mỗi cán bộ công chức viên chức ngành Y tế.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định "chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là trách nhiệm của tất cả các bộ ngành các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương trong đó Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo điều phối và bảo đảm các điều kiện cho các hoạt động y tế và Ngành Y tế làm tham mưu để tổ chức thực hiện. Chúng ta cùng phấn đấu xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh và sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong cả nước góp phần nâng cao sức khoẻ toàn dân phát triển giống nòi và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam".

* Cùng ngày Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã đến thăm cắt băng khánh thành Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E. Thủ tướng cho rằng xây dựng Trung tâm này là việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân trong đó có trẻ em không may mắc bệnh tim bẩm sinh (ảnh).

(Nguồn: Chinhphu.vn)


 

 

 

More...

Câu 05: Các quan điểm đường lối của Đảng về Giáo dục và Đào tạo

By luctranvan

Câu 05:

Các quan điểm đường lối của Đảng về Giáo dục và Đào tạo


 

Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
     Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy ngay từ khi giành được chính quyền Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành giáo dục kết hợp với lao động sản xuất nhà trường gắn liền với xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI VII VIII IX X của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đặc biệt sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lý luận chính trị được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện nhất là thế hệ trẻ.
Đại hội X đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước lòng tự tôn dân tộc lý tưởng chủ nghĩa xã hội lòng nhân ái ý thức tôn trọng pháp luật tinh thần hiếu học ý chí tiến thủ lập nghiệp không cam chịu nghèo nàn đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản làm chủ năng lực nghề nghiệp quan tâm hiệu quả thiết thực nhạy cảm với chính trị có ý chí vươn lên về khoa học - công nghệ.
Để cụ thể chủ trương đó Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước tạo môi trường thuận lơi để cho mọi người học tập và học tập suốtđời. Điều hành hợp lý cơ cấu bậc học cơ cấu ngành nghề cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuât lành nghề hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nũa đến sự nghiệp Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại làm chủ khoa học tiên tiến.

 



đây nữa này !   

I. Tính tất yếu khách quan và sự lãnh đạo của Đảng đối với GD-ĐT
1. Vị trí vai trò của GD-ĐT
Hiện nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Đảng và Nhà nước ta đã đặt giáo dục ở vị trí cao. Nghị quyết Trung ương 2 khoá IIX đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Đánh giá thực trạng giáo dục đào tạo sau 20 năm đổi mới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định sự nghiệp giáo dục đào tạo nước ta tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. Cơ sở vật chất được tăng cường quy mô đào tạo mở rộng nhất là bậc trung học và dạy nghề. Trình độ dân trí được năng cao. Điều đó được thể hiện :
Phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được củng cố phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở được triển khai tích cực. Đến hết năm 2005 có 31 tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97 5%.
Quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng và trình độ dân trí được năng lên rõ rệt. Số học sinh trung học chuyên nghiệp và dạy nghề sinh viên các trường đại học và cao đẳng đều tăng. Các trường sư phạm tiếp tục được củng cố và phát triên. bước đầu đã hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao động nông thôn thanh niên dân tộc thiểu số tàn tật gắn dạy nghề với tạo việc làm xoá đói giảm nghèo. Chất lượng dạy nghề có chuyển biến tích cực.
Đổi mới giáo dục đang được triển khai từ giáo dục mầm non phổ thông dạy nghề đến cao dẳng đại học. Việc xã hội hoá giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả bước đầu. Nhiều trường dân lập tư thục bậc đại học trung học chuyên nghiệp được thành lập.
Đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào tạo tăng lên đáng kể. Năm 2005 chi cho giáo dục đào tạo chiếm gần 18% tổng chi ngân sách nhà nước. Ngoài ra Nhà nước đã huy động được nhiều nguồn vốn khác để phát triển giáo dục như thông qua phát hành công trái huy động đóng góp của nhân dân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Cơ sở vật chất trong các cơ sở giáo dục và đào tạo các cấp được tăng cường đặc biệt là vùng núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số. nhiều tỉnh đã xây dựng được các trường chuẩn quốc gia.
Cùng với kết quả quan trọng nêu trên trong thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém thể hiện ở các điểm sau :
Giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nguồn nhân lực trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều vấn đề hạn chế yếu kém chậm được khắc phục.
Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém khả năng chủ động sáng tạo của học sinh sinh viên còn yếu. Chương trình phương pháp dạy và học còn lạc hậu nặng nề chưa thật phù hợp phát triển giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học chưa cân đối với giáo dục phổ thông. Đào tạo nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
Việc xã hội hoá giáo dục được thực hiện chậm thiếu đồng bộ. Công tác giáo dục đào tạo ở vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn chất lượng thấp chưa quan tâm đúng mức phát triển giáo dục đào tạo ở đồng bằng sông Cửu Long để giáo dục và đào tạo ở vùng này tụt hậu dài so với các vùng khác trong cả nước.
Công tác quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập. Công tác thanh tra giáo dục còn yếu kém. Những hiện tượng tiêu cực như bệnh thành tích thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục trong học tập tuyển sinh thi cử cấp bằng và tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan kéo dài chậm được khắc phục.
2. Sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác cho nên Đảng ta rất chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo. Những năm qua quan điểm của Đảng về đường lối phát triển giáo dục và đào tạo chủ yếu tập trung ở nghị quyết trung ương 2 khoá IIX ( nghị quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo); kết luận của hội nghị lần 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 9; nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ườn Đảng khoá IX; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX X.
Qua các văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo như sau:
- Giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo nhát là chính sách công bằng xã hội.
- Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
- Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân; mọi người mọi cấp chăm lo cho giáo dục và đào tạo.
- Giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
- Giữ vững nòng cốt của các trường công lập song song với đa dạng hoá các loại hình giáo dục đào tạo.
- Chăm lo giáo dục đào tạo là chăm lo cho con người và xã hội phát triển với các yêu cầu và tiêu chí được xác lập.
- Phát triển giáo dục và đào tạo phải theo nguyên lý: học đi đôi với hành giáo dục kết hợp với lao động sản xuất lý luận gắn lion với thực tiễn giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

3. Yêu cầu của thời kì đổi mới
Đảng lãnh đạo giáo dục đào tạo là một tất yếu khách quan để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Xuất phát từ nhu cầu phát triển nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhân cách con người là do nhiều yếu tố tạo nên nhưng giáo dục đào tạo là yếu tố quan trọng giữ vai trò quyết định trong sự phát triển trí tuệ và nhân cách con người. Mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta rất cần thiết có những con người mới xã hội chủ nghĩa do đó phải chăm lo đến việc phát triển giáo dục đào tạo. Chính vì vậy cần có Đảng lãnh đạo để đảm bảo yêu cầu về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ nhu cầu phát triển nền kinh tế tri thức trong nền kinh tế tri thức các sản phẩm được sản xuất với công nghệ cao có hàm lượng chất xám cao từ 70% trở lên. sản xuất hàng hóa sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn ít ô nhiễm môi trường hơn giá thành hạ chất lượng cao hơn. ngày nay những phát minh mới về khoa học công nghệ được ứng dụng nhanh vào sản xuất và hiệu quả sản xuất. Những phát minh mới những tiến bộ mới về khoa học công nghệ tồn tại không lâu nhanh chóng bị lạc hậu. Yêu cầu tất yếu đặt ra là lãnh đạo phải được đào tạo và đào tạo đạt trình độ cao để tham gia sản xuất để sử dụng sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
Xuất phát từ nhu cầu được học tập và không ngừng nâng cao tri thức của nhân dân.
Xuất phát từ nhu cầu về sự bình đẳng của xã hội đòi hỏi phải đảm bảo quyền con người. Để kinh tế phát triển xã hội ổn định thì quyền con người phải được đảm bảo như : quyền học hành quyền lao động quyền làm chủ xã hội...Trong rất nhiều quyền con người ấy thì quyền cao nhất là quyền làm chủ. Muốn làm chủ tự nhiên làm chủ xã hội làm chủ bản thân thì điểm đầu tiên là phải có tri thức. Muốn có tri thức thì phải học nhưng không phải ai cũng có điều kiện để học vì vậy cần có Đảng lãnh đạo để đảm bảo thực hiện quyền đó.
Nhận thức rõ điều đó Đảng đã có nghị quyết trung ương 2 khoá IIX. Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Là động lực và điều kiện để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội. Là chìa khóa để mở cửa để mở cửa tiến vào tương lai. Là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là điều kiện để phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Phải có đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển phải tạo điều kiện cho giáo dục đi trước để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.


CÒN ĐÂY NỮA  

Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy ngay từ khi giành được chính quyền Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam.


Bắt đầu từ Nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành giáo dục kết hợp với lao động sản xuất nhà trường gắn liền với xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VII VIII IX X của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cùng với khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc sách hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục động viên các tầng lớp nhân dân giúp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài đào tạo những con người có kiến thức văn hoá khoa học có kỹ năng nghề nghiệp lao động tự chủ sáng tạo và có kỷ luật giàu lòng nhân ái yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội sống lành mạnh đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai. Phải mở rộng quy mô đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục gắn học với hành tài với đức. Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: Người đi học phải đóng học phí người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo. Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học.
Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định một lần nữa vai trò quan trọng của khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo "Cùng với khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" . Coi trọng cả 3 mặt của giáo dục: mở rộng qui mô nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Đổi mới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học kết hợp đào tạo với nghiên cứu tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận với công nghệ tiên tiến.Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ Đảng ta đã có những chuyển hướng về hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ. Nghị quyết 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đó nhấn mạnh quan điểm hợp tác đào tạo với các nước như sau:
- Dành ngân sách nhà nước thỏa đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học công nghệ phát triển.
- Khuyến khích đi học nước ngoài bằng con đường tự túc hướng vào những ngành mà đất nước đang cần theo quy định của Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết này Chính phủ đã dành 100 tỉ đồng đầu tư cho việc đào tạo ở nước ngoài vào năm 2000 (tương đương với 7 12 triệu USD tại thời điểm đó). Vấn đề nhân tài ngày càng trở nên bức thiết đến Đại hội IX Trung ương Đảng một lần nữa nhấn mạnh rằng: "Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao. Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi đặc biệt chú ý đến con em công nhân và nông dân để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học. Tăng ngân sách nhà nước cho việc cử người đi học ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Khuyến khích việc du học tự túc"
Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đổi mới nội dung phương pháp dạy và học hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá hiện đại hoá xã hội hoá" . Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục.
Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo thực hiện giáo dục toàn diện đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị nhân cách đạo đức lối sống cho người học.
Tăng cường phối hợp nhà trường và gia đình phát huy vai trò giáo dục gia đình.
Đổi mới nội dung chương trình phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa hiện đại hóa tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo năng lực tự học tự tu dưỡng tự tạo việc làm. Tăng cường giáo dục hướng nghiệp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương vùng miền. Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn nhất là các môn học Mác - Lê-nin tư tưởng Hồ Chí Minh. Một số trường đại học phải sớm đạt chất lượng ở trình độ quốc tế.Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách phát hiện đào tạo bồi dưỡng sử dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa. Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo cán bộ quản lý giỏi có công lao lớn trong sự nghiệp giáo dục đào tạo. Nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học chấn chỉnh việc phong chức danh học vị cấp văn bằng. Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở bảo đảm chất lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đào tạo với sử dụng.
Mở rộng hệ thống trường lớp giáo dục mầm non trên mọi địa bàn dân cư đặc biệt ở miền núi vùng dân tộc thiểu số nông thôn.
Hoàn thành cơ bản phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 củng cố kết quả phổ cập tiểu học đặc biệt ở vùng núi vùng sâu vùng xa. Tiếp tục xóa mù chữ ngăn ngừa tái mù chữ giáo dục cho người lớn. Thực hiện phổ cập trung học ở những nơi đó phổ cập xong trung học cơ sở.
Điều chỉnh cơ cấu đào tạo tăng nhanh dạy nghề và trung học chuyên nghiệp. Hiện đại hóa một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhân bậc cao có trình độ tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và công nghệ cao.
Phát triển giáo dục không chính quy các hình thức học tập cộng đồng ở các xã phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời hướng tới xã hội học tập.
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Có chính sách hỗ trợ học sinh sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu vùng xa vùng dân tộc thiểu số. Chú trọng đào tạo cỏn bộ vựng dõn tộc (cỏn bộ đảng chớnh quyền đoàn thể từ bản ấp trở lờn và cỏn bộ khoa học kỹ thuật). Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trỳ bỏn trỳ cho học sinh dõn tộc thiểu số ; từng bước mở rộng quy mụ tuyển sinh đáp ứng yờu cầu đào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chớnh sỏch học bổng cho học sinh các trường này. Thực hiện chế độ miễn phớ học tập cung cấp sỏch giỏo khoa cho học sinh vựng cao vựng sõu vựng xa học sinh người dõn tộc thiểu số. Thực hiện tốt chớnh sỏch cử tuyển đào tạo theo địa chỉ đối với vựng dõn tộc thiểu số vựng sõu vựng xa cú nhiều khó khăn. Có chớnh sỏch bổ tỳc kiến thức cần thiết cho số học sinh dõn tộc thiểu số đó tốt nghiệp trung học phổ thụng hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp để cỏc em trở về địa phương tham gia công tác ở cơ sở
Hội nghị Trung ương 6 khóa IX đó đề ra 3 nhiệm vụ để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII: Một là nõng cao chất lượng hiệu quả giỏo dục và đào tạo nhõn tài. Trong nhiệm vụ này trọng tâm là đổi mới nội dung chương trỡnh phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn húa hiện đại húa ứng dụng cụng nghệ thụng tin vào cỏc cấp học bậc học. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chớnh sỏch tổ chức phỏt hiện đào tạo bồi dưỡng sử dụng nhõn tài. Hai là phỏt triển hợp lý quy mụ giỏo dục cả đại trà và mũi nhọn phục vụ quỏ trỡnh chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cơ cấu trỡnh độ cơ cấu xú hội; vấn đề bổ tỳc trờn tiểu học cho người lớn và phỏt triển giỏo dục khụng chớnh quy; xõy dựng hệ thống trung tõm học tập cộng đồng. Ba là thực hiện cụng bằng xú hội trong giỏo dục tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhõn dõn nhất là cơ hội học cao đẳng và đại học cho con em nông dân và các gia đỡnh diện chớnh sỏch.
Nhỡn lại tỡnh hỡnh đất nước trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới nhân dân ta đó đạt được những thành tựu to lớn cú ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên cho đến nay nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tỡnh trạng kộm phỏt triển.
Trong khi Việt Nam bước vào quỏ trỡnh cụng nghiệp hỳa hiện đại húa thỡ nhiều nước đó vượt qua thời đại cỏch mạng cụng nghiệp đi vào thời đại cỏch mạng thụng tin xõy dựng nền kinh tế tri thức và xú hội tri thức. Khoảng cỏch về trỡnh độ kinh tế khoa học và cụng nghệ giữa nước ta với các nước phỏt triển trờn thế giới kể cả một số nước trong khu vực có xu hướng ngày càng mở rộng thờm mà một nguyờn nhõn quan trọng là do chất lượng trớ tuệ năng lực sỏng tạo và kỹ năng chuyên môn cũn bất cập của nguồn nhừn lực.
Trước những thỏch thức của thời đại cỏch mạng tri thức gắn liền với quỏ trỡnh toàn cầu hỳa và hội nhập quốc tế khi mà nước ta đó trở thành thành viờn thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi mặt mà chủ yếu là đua tranh về trớ tuệ của cỏc quốc gia trờn toàn cầu sự yếu kộm bất cập và tụt hậu của giỏo dục và đào tạo đang trở thành lực cản đối với sự phỏt triển nhanh và bền vững của đất nước.
Đặc biệt sự nghiệp Giáo dục và Giáo dục lý luận chính trị được Đại hội toàn quốc lần thứ X đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh hơn nữa nhằm giáo dục con người phát triển toàn diện nhất là thế hệ trẻ.
Đại hội X đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước lòng tự tôn dân tộc lý tưởng chủ nghĩa xã hội lòng nhân ái ý thức tôn trọng pháp luật tinh thần hiếu học ý chí tiến thủ lập nghiệp không cam chịu nghèo nàn đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản làm chủ năng lực nghề nghiệp quan tâm hiệu quả thiết thực nhảy cảm với chính trị có ý chí vươn lên về khoa học - công nghệ.
Để cụ thể chủ trương đó Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển giáo dục một cách tổng thể và toàn diện bắt đầu từ chủ trương phát triển giáo dục mầm non thực hiện xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước tạo môi trường thuận lơi dể cho mội người học tập và học tập suốtđời. Điều hành hợp lý cơ cấu bậc học cơ cấu ngành nghề cơ cấu vùng trong hệ thống Giáo dục và đào tạo quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuât lành nghề hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế thực hiện tốt chính sách giáo dục gắn với phát triển kinh tế xã hội.
Hiện nay Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nũa đến sự nghiệp Giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại làm chủ khoa học tiên tiến. Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: "Giỏo dục và đào tạo cựng với khoa học và cụng nghệ là quốc sách hàng đầu là nền tảng và động lực thúc đẩy cụng nghiệp hoỏ hiện đại hoá đất nước" ; Nõng cao chất lượng giỏo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức cơ chế quản lý nội dung phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoỏ hiện đại hoỏ xú hội hoỏ" chấn hưng nền giỏo dục Việt Nam; Chuyển dần mụ hỡnh giỏo dục hiện nay sang mụ hỡnh giỏo dục mở - mụ hỡnh xú hội học tập với hệ thống học tập suốt đời đào tạo liờn tục liờn thụng giữa cỏc bậc học ngành học; xõy dựng và phỏt triển hệ thống học tập cho mọi người và những hỡnh thức học tập thực hành linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng cơ hội khác nhau cho người học bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.


 

More...

Câu 04: Các nguồn lực phát triển kinh tế

By luctranvan

Câu 04: Các nguồn lực phát triển kinh tế

- KHÁI NIỆM

Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên hệ thống tài sản quốc gia nguồn nhân lực đường lối chính sách vốn và thị trường... ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định.

Nguồn lực không phải là bất biến. Nó thay đổi theo không gian và thời gian. Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi cho mình.

II - PHÂN LOẠI NGUỒN LỰC

1. Căn cứ vào nguồn gốc2. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ có thể phân chia nguồn lực thành hai loại:


a) Nguồn lực trong nước

Nguồn lực trong nước (còn gọi là nội lực) bao gồm các nguồn lực tự nhiên nhân văn hệ thống tài sản quốc gia đường lối chính sách đang được khai thác

Nguồn lực trong nước đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

b) Nguồn lực nước ngoài

Nguồn lực nước ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học - kỹ thuật và công nghệ nguồn vốn kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất và kinh doanh... từ nước ngoài.

Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng thậm chí đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể.

Mặc dù có vai trò khác nhau nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đây là mối quan hệ hỗ trợ hợp tác bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong nước (nội lực) với nguồn lực nước ngoài (ngoại lực) thành sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

III - VAI TRÒ CỦA NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia.

- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước giữa các quốc gia với nhau. Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới vị trí địa lí là một nguồn lực góp phần định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế.

- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất. Đó là những nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống vừa phục vụ cho phát triển kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho sự phát triển.

- Nguồn lực kinh tế - xã hội nhất là dân cư và nguồn lao động nguồn vốn khoa học - kỹ thuật và công nghệ chính sách toàn cầu hoá khu vực hoá và hợp tác có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn.

Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia. Các nước đang phát triển muốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn tụt hậu cần phải phát hiện và sử dụng hợp lí có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nước đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài nhất là các nước phát triển.

 


 

Các nguồn lực chính để phát triển kinh tế - xã hội

 

 

1. Vị trí địa lí

Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền ( diện tích 330.991 km2) và phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền.

a) Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Đặc điểm đó đã làm cho thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á Đông Phi Tây Phi và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế.

b) Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam Á có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng. Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển làm cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới.

c) Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới. Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo sau đó là Malaixia Thái Lan Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong nhiều năm liên tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90 tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá cao. Vị thế của ASEAN ngày càng được khẳng định.

2. Tài nguyên thiên nhiên

a) Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên. Ở trình độ phát triển kinh tế như hiện nay tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8 0 triệu ha đất nông nghiệp bao gồm đất ở đồng bằng ở các bồn địa giữa núi ở đồi núi thấp và các cao nguyên.

Nguồn nhiệt ẩm lớn tiềm năng nước dồi dào số lượng các giống loài động thực vật biển và trên cạn khá phong phú nguồn khoáng sản đa dạng v.v... là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta.

Tuy nhiên nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão lũ lụt hạn hán v.v... Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra những tổn thất nhất định cho nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hay vùng khác.

Khoáng sản là một loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. nhìn chung ở nước ta nhiều loại khoáng sản phân tán theo không gian và phân bố không đều về trữ lượng. Một số khoáng sản với trữ lượng đáng kể như: boxit vật liệu xây dựng dầu khí sắt v.v... tuy mới được khai thác bước đầu nhưng đã tỏ ra có hiệu quả.

Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên có quan hệ mật thiết với trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật và công nghệ cũng như phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư.

Trên một đơn vị diện tích số lượng tài nguyên nhiều trữ lượng nhỏ lại phân tán như trong điều kiện hiện nay có thể là một khó khăn. Song nếu áp dụng công nghệ khai thác tài nguyên tiên tiến trên quan điểm kinh tế tổng hợp thì mức độ tập trung tài nguyên như đã nêu ở trên lại có thể coi là một thế mạnh.

b) Cho đến gần đây những hậu quả của chiến tranh để lại và nhất là việc khai thác không hợp lý tài nguyên ở nước ta đã dẫn đến tình trạng nhiều loại bị suy giảm nghiêm trọng.

Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác nhau. Trong khi tài nguyên biển chưa sử dụng được bao nhiêu thì nhiều loại tài nguyên khác lại bị khai thác quá mức.

Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng nhất. Hiện nay độ che phủ của rừng đang ở mức báo động. Rừng chỉ còn chiếm 32% diện tích cả nước (1999). Đất đai nhiều vùng bị sói mòn diện tích đất trồng đồi trọc tăng lên đáng kể. Nhiều hệ sinh thái rừng nhất là ở khu vực ven biển đầu nguồn và cửa sông bị phá hoại nặng nề. Nguồn gen động vật thực vật bị giảm sút mạnh.

Sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên trước hết là hậu quả trực tiếp của việc khai thác bừa bãi không theo một chiến lược nhất định. Sau nữa là trình độ công nghệ khai thác của nước ta còn lạc hậu. Vì thế tài nguyên bị lãng phí mà chi phí khai thác lại cao.

c) Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo về và tái tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trong tương lai.

dân cư và nguồn lao động
1. Việt Nam là một nước đông dân có nhiều thành phần dân tộc

Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 1 - 4 - 1999 dân số nước ta là 76.327.900 người. Về dân số nước ta đứng hàng thứ hai ở khu vực Đông Nam Á và hàng thứ 13 trong tổng số hơn 200 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới.

Dân số là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế. Với số dân đông nước ta có nguồn lao động dồi dào thị trường tiêu thụ rộng lớn. Song trong điều kiện nước ta hiện nay dân số đông là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân.

Nước ta có 54 thành phần dân tộc đoàn kết trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các thành phần dân tộc ở nước ta vẫn còn có sự chênh lệch. Vì vậy phải chú trọng hơn nữa đển việc phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc ít người.

2. Dân số nước ta tăng nhanh

Dân số tăng quá nhanh dẫn đến sự bùng nổ dân số. Điều đó xảy ra ở nước ta từ cuối những năm 50 của thế kú XX. Tuy nhiên ở từng vùng lãnh thổ từng thành phần dân tộc mức bùng nổ dân số có sự khác nhau. Trên phạm vi toàn quốc dân số nước ta đã tăng gấp đôi từ 30 lên 60 triệu người trong vòng 25 năm (1960 - 1985).

Nhịp độ gia tăng dân số cũng biến đổi qua các thời kì.

Trong thời kì 1931 - 1960 tốc độ gia tăng trung bình năm là 1 85%. Dân số tăng nhanh vào những năm 1965 - 1975 với mức tăng trung bình năm trên 3%. Giữa hai đợt tổng điều tra dân số lần thứ nhất và lần thứ hai (1979 và 1989) mức tăng trung bình năm giảm xuống còn 2 1% và giữa hai cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất (1989 và 1999) là 1 7%.

Hiện nay do kết quả của việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nhịp độ tăng dân số ở nước ta đang có xu hướng giảm xuống tuy còn chậm. Mặc dù tỉ lệ sinh có giảm song số dân nước ta trong thời kì 1979 - 1989 vẫn tăng thêm 11 7 triệu người tương đương với số dân của một nước trung bình trên thế giới.

Trong thời kì 1989 - 1999 số dân tăng thêm 11 9 triệu người tỉ lệ gia tăng dân số trung bình năm tuy có giảm (1 7%) nhưng vẫn cao hơn một chút so với mức gia tăng tự nhiên của toàn thế giới.

Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội.

3. Dân số nước ta thuộc loại trẻ

Cơ cấu các nhóm tuổi trong tổng số dân (1 - 4 - 1999) của nước ta là:
+ Dưới độ tuổi lao động: 33 1%
+ Trong độ tuổi lao động: 59 3%
+ Ngoài độ tuổi lao động: 7 6%

Do dân số trẻ nên lực lượng lao động của nước ta chiếm khoảng 50% tổng số dân. Hàng năm xã hội có thêm khoảng 1 1 triệu lao động mới. Điều đó gây nên những khó khăn về sắp xếp việc làm cho số lao động gia tăng. Tuy nhiên lực lượng lao động của Việt Nam có khả năng tiếp thu nhanh các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nếu được đào tạo và sử dụng hợp lí họ sẽ trở thành nguồn lực quyết định để xây dựng đất nước.

4. Dân cư và nguồn lao động nước ta phân bố không đều

Điều đó phụ thuộc vào lịch sử định cư trình độ phát triển kinh tế -xã hội mức độ màu mỡ của đất đai sự phong phú của nguồn nước v.v... Tính chất không đồng đều này thể hiện rõ rệt giữa các vùng và ngay trong nội bộ từng vùng lãnh thổ.

Khoảng 80% số dân tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển với mật độ dân số rất cao (đồng bằng sông Hồng 1180 người/km2 - 1999). Ở trung du và miền núi dân cư thưa thớt hơn nhiều (Tây Nguyên là 67 người/km2 Tây Bắc là 62 người/km2).

Sự phân bố dân cư không đều còn thể hiện giữa thành thị và nông thôn. 76 5% số dân sinh sống ở nông thôn còn ở thành thị chiếm 23 5% (số liệu năm 1999)

Tình hình phân bố dân cư như vậy gây ra những khó khăn cho việc sử dụng hợp lí nguồn lao động và việc khai thác nguồn tài nguyên hiện có ở mỗi vùng.

5. Để giảm bớt gánh nặng dân số cần phải có chiến lược phát triển dân số hợp lí và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động của nước ta

Trước mắt cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm nhanh tỉ lệ sinh đồng thời từng bước phân bố lại dân cư lao động giữa các vùng và giữa các ngành kinh tế trong phạm vi cả nước.


I. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội

1. Việc đổi mới kinh tế - xã hội một cách toàn diện là vấn đề cơ bản xuyên suốt hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước

Đây cũng chính là nguồn lực quan trọng góp phần vào việc định hướng phát triển nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu đang đặt ra ở nước ta. Cho đến nay nền kinh tế nước ta đã trải qua từ việc phi tập trung hoá về mặt hành chính đến việc bước đầu đổi mới toàn diện. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 quá trình đổi mới đã được định hình và phát triển đúng hướng. Sự đổi mới thể hiện ở việc xoá bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp xây dựng cơ cấu kinh tế năng động sử dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 đã được vạch ra nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách của đất nước

Mục tiêu tổng quát của chiến lược là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nâng cao rõ rệt đời sống vật chất văn hoá tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người năng lực khoa học và công nghệ kết cấu hạ tầng tiềm lực kinh tế quốc phòng an ninh được tăng cường thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản ; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Năm 2010 tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000 ; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 50%.

3. Để thực hiện chiến lược đổi mới nhiều chính sách cụ thể đã được ban hành

Một trong những nguồn lực quan trọng để đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược kinh tế - xã hội là vấn đề tạo vốn. Ngoài chính sách huy động vốn trong nước chính sách mở cửa và luật đầu tư đã ra đời và đang phát huy tác động trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Việt Nam được coi là một thị trường khá hấp dẫn là nơi đang có nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đến đầu tư.

II. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội

1. Nước ta đã xây dựng được một hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật có trình độ nhất định để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước


a) Cơ sở vật chất - kỹ thuật của các ngành từng bước được hình thành. Trong nông nghiệp cả nước có gần 5300 công trình thuỷ lợi trong đó có khoảng 3000 trạm bơm. Các công trình này đã góp phần vào việc chủ động tưới nước cho 4 8 triệu ha và tiêu nước cho 52 vạn ha. Ngoài ra phải kể đến nhiều cơ sở bảo vệ thực vật thú ý nghiên cứu giống nhân giống và tạo ra nhiều giống cây con phù hợp với điều kiện sinh thái kỹ thuật nuôi trồng cho năng suất cao.

Trong công nghiệp cả nước có 2821 xí nghiệp trung ương và địa phương 590.246 cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh - (tính đến hết năm 1998). Một số ngành công nghiệp khai thác (than dầu khí) công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (dệt giấy v.v...) xi măng.

Mạng lưới giao thông chính đã toả đi nhiều nơi từ Bắc đến Nam từ đồng bằng lên trung du và miền núi. Dọc vùng duyên hải là hệ thống cảng biển trong đó đáng kể nhất là các cảng Hải Phòng Đà Nẵng Sài Gòn. Năng lực vận chuyển hàng hoá của các cảng biển đạt 11 6 triệu tấn/năm (năm 1999). Mạng lưới thương mại phát triển rộng khắp với 1 5 triệu người kinh doanh chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.

b) Về phương diện lãnh thổ các trung tâm công nghiệp quan trọng (Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh) và một số vùng chuyên canh (lúa cây công nghiệp) có quy mô lớn thật sự trở thành bộ khung cho việc hình thành các vùng kinh tế.

2. Tuy nhiên cơ sở vật chất - kỹ thuật chưa đủ mạnh để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Trừ một số cơ sở công nghiệp mới xây dựng trình độ kỹ thuật và công nghệ của nước ta nói chung còn lạc hậu. Sự thiếu đồng bộ giữa các ngành và trong từng ngành còn phổ biến. Kết cấu hạ tầng vẫn đang ở tình trạng kém phát triển.

Sự phân bố cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế chưa đồng đều giữa các vùng. Các cơ sở kinh tế lớn tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và phụ cận ở Đông Nam Bộ đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Ở các vùng này kết cấu hạ tầng phát triển hơn hẳn các vùng còn lại của đất nước. Trong lúc đó cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc Tây Nguyên cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội còn rất hạn chế.

3. Để tạo tiền đề cho sự phát triển việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật là một vấn đề cấp thiết

Trước mắt việc đầu tư theo chiều sâu kết hợp giữa hiện đại hoá và phát triển đồng bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội nước ta tiến kịp trình độ chung của thế giới.


 

More...

Câu 03: Mô hình Dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố

By luctranvan

Câu 03: Mô hình Dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố - sáng kiến phát huy mối liên hệ hữu cơ giữa Đảng - chính quyền và nhân dân Nguyễn Duy Việt Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương TCCS - Trong mấy năm nay từ thực tiễn quá trình triển khai thực hiện công tác dân vận ở cơ sở Ban Dân vận một số tỉnh ủy thành ủy đã có sáng kiến nghiên cứu đề xuất với cấp ủy chỉ đạo cho thành lập phát triển mô hình Dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố. Tuy nhiên đây mới chỉ là sáng kiến của một số tỉnh thành nên cũng còn có một số vấn đề cần trao đổi làm rõ để có thể nhân rộng ở các địa phương khác nhưng đã cho thấy rõ hiệu quả của nó. Đến nay đã có 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Bắc Giang Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện mô hình Dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố ở diện rộng. Cụ thể là: Bạc Liêu đã thành lập ở 518/518 ấp; Vĩnh Long 846/846 ấp; Tiền Giang 1.009/1.009 ấp; Thành phố Cần Thơ đang làm thí điểm và đã thành lập ở 145/614 ấp; Kiên Giang 232/914 ấp; có 2 huyện Châu Thành U Minh Thượng đã thành lập ở 100% khóm ấp; Bắc Giang ở 2.455/2.455 thôn bản có tổ Dân vận. Đến nay có tỉnh đã thực hiện được 8 năm như Tiền Giang 3 năm như Bạc liêu; 7 năm như Bắc Giang 10 năm như Quận 10 của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn chung ở những nơi đã thành lập tổ khối dân vận khóm ấp thôn bản đi vào hoạt động nền nếp và mang lại hiệu quả thiết thực. Một là tổ khối dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố là hình thức phối hợp phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị lực lượng làm công tác dân vận ở khóm ấp thôn bản. Tên gọi có thể khác nhau nhưng bộ máy thường là: Bí thư chi bộ là tổ trưởng khối trưởng; ấp trưởng hoặc trưởng ban Mặt trận là phó; trưởng các đoàn thể và tổ chức: Thanh niên Phụ nữ Nông dân Cựu chiến binh Quân sự Công an ấp thôn và một số cốt cán ngưòi có uy tín là ủy viên. Bộ máy do thôn ấp tự lập ra theo chỉ đạo hướng dẫn của cấp trên. Sau khi thành lập hầu hết đã xây dựng quy chế làm việc sinh hoạt định kỳ (có nơi 1 tháng; 2 tuần; có nơi 1 tuần sinh hoạt 1 lần hoặc hội ý thường xuyên tùy theo yêu cầu công việc). Chức năng chủ yếu là nắm tình hình nhân dân tham mưu thường xuyên cho chi bộ lãnh đạo chỉ đạo công tác vận động quần chúng ở ấp thôn bản tổ dân phố; chịu sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ khóm ấp và hướng dẫn của khối dân vận xã phường thị trấn. Nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp thống nhất các lực lượng dưới sự lãnh đạo của chi ủy chi bộ làm công tác vận động quần chúng thực hiện các chủ trương của Đảng chính sách của Nhà nước; tổ chức vận động nhân dân tham gia các phong trào các cuộc vận động ở cơ sở. Chủ động nắm tình hình tâm tư nguyện vọng của nhân dân; tham gia hòa giải giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Nhiệm vụ này cũng chính là các nhiệm vụ trọng tâm chủ yếu của chi bộ. Trước đây để tiến hành thực hiện các nhiệm vụ trên Bí thư chi bộ phân công cho các đảng viên phổ biến cho Ban Mặt trận các chi đoàn chi hội thực hiện theo chức năng riêng của từng tổ chức. Song nay với tư cách là tổ trưởng hay khối trưởng dân vận đồng chí bí thư chi bộ đã trực tiếp nắm và điều hành lực lượng làm công tác dân vận thực hiện nhiệm vụ của chi bộ một cách có hiệu quả cao. Mặt khác trong công tác vận động quần chúng theo chức năng riêng của Ban Mặt trận các đoàn thể có sự phối hợp đồng bộ giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau như: chủ trương về tập hợp thanh niên ấp; bài trừ tệ nạn xấu trong thanh niên (của Chi đoàn Thanh niên); "Vận động nhân dân làm kinh tế hộ gia đình" (của Chi hội Nông dân); Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" (của Mặt trận) v.v.. Đặc biệt đối với những việc chung như vận động nhân dân làm đường kênh mương thực hiện các công trình dự án của Nhà nước giải tỏa đền bù; thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở công tác tôn giáo dân tộc v.v..; nhất là trong hòa giải giải quyết thắc mắc khiếu tố mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân đã tạo ra sức mạnh tổng hợp thống nhất về chủ trương giải pháp tuyên truyền vận động nhân dân làm cho nhân dân yên tâm tin tưởng. Hai là có tổ khối dân vận ở khóm ấp đã dễ dàng thực hiện được phương châm công tác dân vận đến từng nhà từng người dân. Trong bài báo "Dân vận" đăng trên báo "Sự thật" ngày 15-10-1949 Bác Hồ viết: "Dân vận là vận động tất cả các lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào góp thành lực lượng toàn dân để thực hiện những công việc nên làm những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho". Đây chính là quan điểm mục tiêu phương châm phương pháp công tác dân vận của Đảng tư tưởng của Bác Hồ phải thường xuyên quán triệt thực hiện ở mọi thời kỳ của cách mạng ở mọi lúc mọi nơi. Khóm ấp là địa bàn gần dân sát dân nhất; là nơi hằng ngày diễn ra mọi sinh hoạt của cộng đồng dân cư có quan hệ huyết thống dòng họ quan hệ tình làng xóm mang tính tự quản là chủ yếu; là nơi trực tiếp tập hợp vận động quần chúng thực thi mọi chủ trương của Đảng pháp luật của Nhà nước. Là nơi dễ nắm bắt tâm tư tình cảm nguyện vọng tâm trạng của nhân dân; đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc họp sinh hoạt trực tiếp với nhân dân để thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và rộng rãi của nhân dân để nhân dân được bàn và quyết định các công việc của nội bộ cộng đồng dân cư của xã phường thị trấn theo quy định của Pháp lệnh số 34 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về "Thực hiện dân chủ ở xã phường thị trấn". Từ đặc điểm tính chất nói trên công tác dân vận ở khóm ấp thôn bản tổ dân phố có thể dễ dàng nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của quần chúng để vận động đến từng nhà từng người dân như lời dạy của Bác Hồ. Vì vậy phải có hình thức tổ chức phối hợp làm công tác dân vận ở khóm ấp thôn bản tổ dân phố để giúp chi bộ ấp trực tiếp chỉ đạo nắm tình hình và thông qua tổ dân vận khóm ấp để lãnh đạo tổ chức phát huy được các lực lượng làm công tác vận động quần chúng. Ba là tổ khối dân vận khóm ấp thôn bản mới chỉ là sáng kiến của một số tỉnh thành phố. Về thực chất đây không phải là một tổ chức mới cồng kềnh chồng chéo tốn kém mà thực tế hoạt động đã mang lại hiệu quả thiết thực đáp ứng yêu cầu tăng cường nâng cao chất lượng hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong tình hình hiện nay. Ban Dân vận Trung ương đang nghiên cứu tổng kết để chỉ đạo nhân rộng. Song các tỉnh thành ủy trong cả nước có thể học tập rút kinh nghiệm ở những nơi đã làm để áp dụng phát triển ở địa phương mình. Mặt khác để tạo điều kiện cho các tổ khối dân vận khóm ấp thôn bản tổ dân phố hoạt động tốt các địa phương cần căn cứ vào điều kiện cụ thể bố trí ngân sách hoặc lồng ghép với các chương trình đề án kinh phí của việc triển khai các nhiệm vụ bố trí kinh phí cho hoạt động và một phần thù lao cho những người đi làm cụ thể./.


 

More...

Câu 02: NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

By luctranvan

Câu 02:

NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM  TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

 

16. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ NĂM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA VIII)
VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM
TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm  hồn khí phách bản lĩnh Việt Nam làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. 

PHẦN THỨ NHẤT

VỀ THỰC TRẠNG VĂN HOÁ NƯỚC TA

Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể. Đội ngũ những nhà văn hoá người dân tộc thiểu số phát triển cả về số lượng chất lượng đã có những đóng góp quan trọng vào hầu hết các lĩnh vực văn học nghệ thuật

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ

1. PHƯƠNG HƯỚNG

Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc ý thức độc lập tự chủ tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tiếp thụ tinh hoa văn hoá nhân loại làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội vào từng người từng gia đình từng tập thể và cộng đồng từng địa bàn dân cư vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp trình độ dân trí cao khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

..............................

3. Nền văn hoá Việt Nam là nên văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em.

4. Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá nước nhà. Công nhân nông dân trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá.

5. Văn hoá là một mặt trân; xây dựng phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới xã hội chủ nghĩa làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống của toàn xã hội và mỗi con người trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian. Trong công cuộc đó "xây" đi đôi với "chống" lấy "xây" làm chính. Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá quí báu của dân tộc tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới sáng tạo vun đắp nên những giá trị mới phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục các thói hư tật xấu nâng cao tính chiến đấu chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện "diễn biến hoà bình".

II. NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ

1. Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:

- Có tinh thần yêu nước tự cường dân tộc phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh nếp sống văn minh cần kiệm trung thực nhân nghĩa tôn trọng kỷ cương phép nước quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp có kỹ thuật sáng tạo năng suất cao vì lợi ích của bản thân gia đình tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn trình độ thẩm mỹ và thể lực.

2. Xây dựng môi trường văn hoá

Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình làng bản xã phường khu tập thể cơ quan xí nghiệp nông trường lâm trường trường học đơn vị bộ đội... các vùng dân cư (đô thị nông thôn miền núi...) đời sống văn hoá lành mạnh đáp ứng những nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân.

Gìn giữ và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình nhà trường và xã hội.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng ấp xã phường văn hoá nâng cao tính tự quản của cộng động dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh.

Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hoá giữa các trung tâm đô thị và nông thôn giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu vùng xa vùng núi biên giới hải đảo giữa các tầng lớp nhân dân.

Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hoá trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hoá nghệ thuật chuyên nghiệp phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hoá nghệ thuật.

3. Phát triển sự nghiệp văn hoá nghệ thuật

4. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá

Di sản văn hoá là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Hết sức coi trọng bảo tồn kế thừa phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian) văn hoá cách mạng bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể.

Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại.

5. Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ

Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ. Coi trọng giáo dục đạo lý làm người ý thức trách nhiệm nghĩa vụ công dân lòng yếu nước yêu chủ nghĩa xã hội đạo đức lối sống nếp sống văn hoá lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước bồi dưỡng ý thức và năng lực phát huy giá trị văn hoá dân tộc tiếp thụ tinh hoa văn hoá nhân loại.

..................

7. Bảo tồn phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số

"Coi trọng và bảo tồn phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng phát triển những giá trị mới về văn hoá văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.

Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện bồi dưỡng tổ chức lực lượng sáng tác sưu tầm nghiên cứu văn hoá văn học nghệ thuật là người dân tộc thiểu số.

Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số và tạo điều kiện để trí thức cán bộ dân tộc thiểu số trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân.

Đầu tư và tổ chức điều tra sưu tầm nghiên cứu phổ biến các giá trị văn hoá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số.

Xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hoá mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số.

Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số sớm giảm tỉ lệ hộ đói nghèo ổn định và cải thiện đời sống xoá mù chữ nâng cao dân trí xoá bỏ hủ tục.

.................................

 

III. NHỮNG NHIỆM VỤ CẤP BÁCH ĐẾN NĂM 2000

 

Từ nay đến năm 2000 đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình.

Kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hoá biến chất về đạo đức ra khỏi tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Nghiêm trị bọn tội phạm. Ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động phản văn hoá các sản phẩm văn hoá độc hại.

Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới việc tang lễ hội đẩy lùi hủ tục các tệ nạn cờ bạc ma tuý mại dâm bạo lực gây rối trật tự công cộng.

Cải thiện đời sống văn hoá ở những vùng đời sống văn hoá còn quá thấp kém nhất là những vùng sâu vùng xa vùng núi biên giới hải đảo vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất về đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân.

PHẦN THỨ BA

NHỮNG GIẢI PHÁP LỚN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ

I. MỞ CUỘC VẬN ĐỘNG GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC
GẮN VỚI THI ĐUA YÊU NƯỚC VÀ PHONG TRÀO
"TOÀN DÂN ĐOÀN KẾTXÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ"

..................

- Chính sách bảo tồn phát huy di sản văn hoá dân tộc hướng vào cả văn hoá vật thể và phi vật thể. Tiến hành sớm việc kiểm kê sưu tầm chỉnh lý vốn văn hoá truyền thống (bao gồm văn hoá bác học và văn hoá dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số; phiên dịch giới thiệu kho tàng văn hoá Hán Nôm. Bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá và các danh lam thắng cảnh các làng nghề các nghề truyền thống... Trọng đãi những nghệ nhân bậc thầy trong các ngành nghề truyền thống.

 .................

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

 khi trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới

Nguyễn Mạnh Hưởng

 

Trong thời đại ngày nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ trên quy mô lớn. Cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và mạng thông tin toàn cầu "ngôi nhà" thế giới dường như trở nên "nhỏ bé" hơn. "Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng gây khó khăn thách thức lớn cho các quốc gia nhất là các nước đang phát triển"(1). Sự ảnh hưởng của quá trình này không chỉ về phương diện kinh tế. Bất luận tham gia chủ động hay buộc phải cuốn theo một cách bị động vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế thì văn hóa dân tộc đều phải tiếp xúc giao thoa với các nền văn hóa khác trên thế giới đều thôi thúc từng dân tộc suy nghĩ xem phải ứng xử với xu thế lịch sử này như thế nào.

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là một sản phẩm của quá trình toàn cầu hóa kinh tế đến lượt mình tổ chức này lại thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn và trở nên hiệu quả hơn. Trở thành thành viên chính thức của WTO Việt Nam có cơ hội phát triển đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đồng thời cũng đứng trước nhiều vấn đề mới trong việc giữ vững sự độc lập tự chủ của nền kinh tế còn non trẻ và kém phát triển; trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm quốc phòng và an ninh bảo vệ Tổ quốc.

Thế giới đương đại đang chứng kiến hai yếu tố lớn tác động mạnh mẽ đến bức tranh kinh tế toàn cầu là: sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của các công ty xuyên quốc gia. Những công ty tư bản xuyên quốc gia những thế lực chủ yếu chi phối "luật chơi" của kinh tế thế giới không phải không mong muốn kiến tạo "một thế giới theo hình ảnh của nó"(2) - như cách diễn đạt của C.Mác Ph.Ăng-ghen cách đây gần 160 năm - cả về chính trị và văn hóa. Với góc tiếp cận này việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO lại là một "thời cơ" lớn đối với các thế lực thù địch thực thi chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam. Sự chống phá đó trong nhiều trường hợp được ẩn náu che dấu kín đáo trong các quan hệ kinh tế thương mại hợp tác đầu tư làm cho chúng ta khó nhận biết chính xác rõ ràng và vì thế cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" trở nên phức tạp khó khăn hơn.

Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO không phải là "nhất thành bất biến" mà đan xen lẫn nhau tác động sâu rộng không chỉ đến lĩnh vực kinh tế mà đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đến từng tổ chức và con người. Tận dụng được cơ hội vượt qua và đẩy lùi thách thức biến thách thức thành cơ hội để phát triển phụ thuộc vào việc chúng ta phát huy nhân tố chủ quan nội lực của đất nước bản sắc văn hóa tinh thần yêu nước ý chí tự lực tự cường của cả dân tộc như thế nào.

Văn hóa cũng như các lĩnh vực khác chịu sự tác động sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Bản thân văn hóa không chỉ thể hiện ở những sản phẩm văn hóa tinh thần trong các hoạt động văn hóa tinh thần mà còn ẩn chứa bên trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội trong tất cả các nhóm dân cư trong đời sống tâm lý tình cảm tư tưởng của con người trong các thể chế chính trị - xã hội của đất nước... Lĩnh vực sản xuất vật chất đơn thuần cũng hàm chứa trong nó những nội dung văn hóa phản ánh đặc tính văn hóa của con người của cộng đồng người trong lĩnh vực sản xuất vật chất đó. Một sản phẩm vật chất cụ thể bao giờ cũng kết tinh những giá trị văn hóa nào đó. Một công ty liên doanh kinh tế không phải đơn thuần chỉ có nội dung kinh tế mà chứa đựng trong đó những giá trị văn hoá những mối quan hệ văn hóa giữa các bên liên doanh: văn hóa giao tiếp ứng xử; văn hóa sản xuất kinh doanh... và cả những yếu tố chính trị - tư tưởng. Sự tác động của quá trình này đối với văn hóa vừa biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế thương mại và các lĩnh vực khác vừa trực tiếp tác động đến văn hóa đến các giá trị văn hóa đến phong tục tập quán các giá trị truyền thống và các thiết chế văn hóa của xã hội... mà hiện nay chúng ta khó có thể dự lường hết được.

Việc thực hiện những cam kết với WTO tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại có cơ hội phát triển và làm thăng hoa văn hóa dân tộc tôn vinh hình ảnh Việt Nam trong cộng đồng thế giới. Những giá trị văn hóa mới phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Lớp cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao thông thạo ngoại ngữ tin học năng động tự tin dám nghĩ dám làm dám cạnh tranh có ý thức dân tộc cao có tác phong công nghiệp từng bước xuất hiện và phát triển. Biết làm giàu chính đáng cho bản thân cho cộng đồng và cho xã hội trở thành một giá trị tiêu biểu và là một biểu hiện sinh động của tình yêu quê hương đất nước. Lòng nhân ái tình thương con người biến thành hành động cụ thể giúp nhau vượt khó vươn lên làm giàu...

Tuy nhiên là thành viên của WTO dưới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh tế mặt trái của kinh tế thị trường sự chống phá của các thế lực thù địch thì những thách thức đối với giá trị văn hóa truyền thống cũng gia tăng. Các nấc thang giá trị có sự thay đổi sâu sắc làm cho việc phân biệt "đúng - sai" "tốt - xấu" trong nhiều trường hợp trở nên hết sức phức tạp. Những yếu tố ngoại lai lai căng có điều kiện xâm nhập phát triển ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống văn hóa tinh thần xã hội. Những "nọc độc" về văn hóa chính trị thâm nhập vào bằng nhiều con đường với nhiều hình thức tinh vi khác nhau làm cho tư tưởng đạo đức lối sống con người dễ bị nhiễm độc; vấn đề "bảo vệ an ninh chính trị an ninh kinh tế an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội" được đặt ra một cách gắt gao hơn. Chủ nghĩa cá nhân thực dụng lối sống vì đồng tiền làm giàu bằng mọi giá các tệ nạn xã hội... có điều kiện phát triển. Trong bối cảnh đó nếu không có chiến lược văn hóa phù hợp thì sự ảnh hưởng này sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.

Nhận thức đúng vấn đề đó tại Đại hội X của Đảng ngay khi nước ta chưa chính thức là thành viên của WTO Đảng ta đã chỉ rõ: "Khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)"(3). Chiến lược văn hóa trong điều kiện mới cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm tư tưởng trên đây của Đảng. Say sưa tìm kiếm sự phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến vấn đề văn hóa trong chiến lược phát triển thì đó là một hành động tự làm suy yếu sức mạnh của bản thân mình. Chiến lược văn hóa trong điều kiện đó phải tập trung giải quyết hai nội dung cơ bản và cấp thiết có quan hệ biện chứng với nhau không tách rời nhau: thứ nhất giữ gìn kế thừa phát triển bản sắc văn hóa dân tộc; thứ hai phát huy văn hóa dân tộc nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong quá trình hội nhập. Xây dựng và phát triển giữ gìn và phát huy gắn bó chặt chẽ với nhau trong chiến lược văn hóa.

Ở nội dung thứ nhất để giữ gìn kế thừa phát triển bản sắc văn hóa dân tộc chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thực sự coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa dân tộc là một chỉnh thể đồ sộ phong phú bao gồm tri thức tư tưởng tín ngưỡng nghệ thuật đạo đức pháp luật phong tục tập quán truyền thống... nó vừa là "trầm tích" của tình cảm và ý thức dân tộc trong quá khứ vừa là kết tinh của tinh thần thời đại và định hướng giá trị của dân tộc. Mỗi dân tộc có cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của mình. Cần phải có thái độ biện chứng "gạn đục khơi trong" những giá trị văn hóa dân tộc. Văn hóa luôn là hệ thống mở những giá trị đích thực tiêu biểu cho cốt cách phẩm chất dân tộc Việt Nam cần phải được bồi đắp nội dung mới cho phù hợp với thời đại những mặt hạn chế cần phải được khắc phục đổi thay. Những giá trị bên ngoài đã được "Việt Nam hoá" được các thế hệ con người Việt Nam thâu lượm chọn lọc biến "cái của người" thành "cái của ta" cũng là văn hóa dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải do dân tộc ta sản sinh ra nó là kết tinh văn hóa nhân loại đã được dân tộc ta tiếp thu và trở thành điều cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc càng cần phải kiên định hơn nữa trong bối cảnh mới.

Các giá trị tốt đẹp của xã hội và con người Việt Nam là sản phẩm của lịch sử dựng nước và giữ nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc và là bản chất của quá trình lịch sử ấy. Các thế hệ ông cha đã sản sinh ra những giá trị văn hóa dân tộc; kế thừa phát huy và phát triển là công việc của con cháu của thế hệ hôm nay. Trên tinh thần ấy cần phải quán triệt sâu sắc những định hướng mà Đại hội X của Đảng đã chỉ ra về kế thừa phát huy và phát triển giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế: "Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên học sinh sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống năng lực trí tuệ đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam"(4).

Ở nội dung thứ hai vấn đề phát huy văn hóa dân tộc nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong quá trình hội nhập. Vào WTO chúng ta vừa có điều kiện để phát huy văn hóa dân tộc vừa phải có trách nhiệm hơn có ý thức cao hơn trong việc tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện mới của sự mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là để đến với thế giới một cách tốt hơn học tập chỗ mạnh của các nền văn hóa khác một cách tốt hơn tiếp thu văn hóa nhân loại thông qua tính dân tộc để thâu lượm sàng lọc tính thời đại tính thế giới.

Cần nhận thức và xác định đúng đắn ý nghĩa tầm quan trọng của văn hóa khi thực hiện các cam kết kinh tế thương mại song phương đa phương trong khuôn khổ WTO. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phát triển tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc và hình ảnh Việt Nam trước bạn bè năm châu là trách nhiệm của toàn Đảng toàn dân của tất cả các cấp các ngành của mọi con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở đây vai trò của các doanh nghiệp hết sức quan trọng. Tinh thần yêu nước ý thức dân tộc phải trở thành một hành trang cơ bản giúp họ sản xuất kinh doanh cạnh tranh với "thiên hạ" tô đẹp hình ảnh Việt Nam trên thế giới. Mọi sản phẩm làm ra mọi hoạt động kinh doanh buôn bán không chỉ mang lợi ích kinh tế mà phải có ý nghĩa giá trị văn hóa sâu đậm. Kinh tế và văn hoá giá trị kinh tế và giá trị văn hóa dân tộc hòa quyện tạo ra niềm tự hào chính đáng đó của dân tộc Việt Nam.

Trong xã hội đang và sẽ tiếp tục diễn ra quá trình: những giá trị được sinh ra hoặc phát triển chủ yếu trong chống ngoại xâm trong thời bao cấp chuyển thành những giá trị của thời kỳ đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế. Sự chuyển biến này là đòi hỏi tất yếu của tình hình mới. Vào WTO thì sự chuyển biến này càng có điều kiện và đòi hỏi phải đẩy nhanh tốc độ. Thành công của sự nghiệp đổi mới chấn hưng đất nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay phụ thuộc rất lớn vào tính đúng hướng và chất lượng của quá trình đó. Điều quyết định đảm bảo tính đúng hướng và chất lượng của quá trình chuyển động này là sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phát huy cao độ tinh thần yêu nước ý chí tự lực tự cường trong mỗi con người và của toàn dân tộc.

Thực tiễn trên thế giới những năm gần đây cho thấy rõ điều đó. Dưới sự tác động mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế người dân của nhiều quốc gia đã lấy việc sử dụng đồ điện ô-tô sản xuất trong nước làm vinh dự. Để đối phó với sự khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu Á năm 1997- 1998 không ít người dân Hàn Quốc đã tự nguyện quyên góp tiền vàng cho chính phủ nhằm cứu vãn nền kinh tế sắp lâm vào khủng hoảng; người dân một số nước Đông - Nam Á cũng có những hành động tương tự(5). Những ví dụ nêu trên đáng để cho chúng ta suy ngẫm về ý thức dân tộc lòng tự hào và tinh thần dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế.

Dân tộc ta chỉ có thể phát triển và khẳng định được chính mình trong dòng chảy của toàn cầu hóa kinh tế hội nhập kinh tế quốc tế trong "sân chơi" của WTO thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh "sánh vai cùng các nước trên thế giới trong nhịp bước khẩn trương của thời đại"(6) khi chúng ta biết phát huy mạnh mẽ nội lực của chính mình biết giữ gìn bảo vệ và không ngừng bồi đắp phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của mình.

* PGS TS Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2006 tr. 73

(2) C.Mác Ph.Ăng-ghen toàn tập tập 4 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1995 tr. 602

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. năm 2006 tr. 114

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2006 tr. 106

(5) Xem: Toàn cầu hoá kinh tế và xây dựng văn hoá dân tộc Tài liệu phục vụ nghiên cứu Viện Thông tin khoa học xã hội số 6/ 2002 tr 5 6

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2006 tr. 139


 

 


More...

Câu 01: Vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển đất nước

By luctranvan

 

Câu 01:   

Vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển đất nước


 (ĐCSVN) - Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ văn hóa do con người sáng tạo ra chi phối toàn bộ hoạt động của con người là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người làm cho con người ngày càng hoàn thiện.

Trong vài thập kỷ trước đây có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện kết quả cho thấy các quốc gia đó đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội sự suy thoái về đạo đức văn hóa ngày càng tăng. Từ đó kéo theo kinh tế phát triển chậm lại mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế đất nước rơi vào tình trạng suy thoái không phát triển được. Đây là quan niệm phát triển nhanh bằng cách hi sinh các giá trị văn hóa - xã hội cho sự phát triển. Trên thực tế đã bị phá sản.

Từ thực tế đó một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế cùng với việc phát triển tài nguyên con người bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình này tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh nhưng lại bền vững xã hội ổn định. Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa được các nhà khoa học các chính khách thừa nhận. Từ đó cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm của sự tiến hóa toàn cục đặc thù cho mỗi xã hội. Vì vậy cho nên ở đây có sự tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và văn hóa. Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội.

Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn hóa bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt động lao động của con người rất đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó đi đến việc tạo ra những quan niệm cụ thể khác nhau: văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh văn hóa ẩm thực ... Ở đây trong bài viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Đó là: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra được cộng đồng khẳng định tích lũy lại tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người từng xã hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII) Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước... là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn khí phách bản lĩnh Việt Nam làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ văn hóa do con người sáng tạo ra chi phối toàn bộ hoạt động của con người là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người làm cho con người ngày càng hoàn thiện xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con người tồn tại không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội.

Trên ý nghĩa đó văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội đồng thời là mục tiêu của sự phát triển. Vì xét cho cùng mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao càng toàn diện con người và xã hội làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng thái nguyên sơ mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc và văn minh. Trong đó bản chất nhân văn nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội. Mục tiêu này phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững tiến bộ của các quốc gia dân tộc. Đây là một nội dung quan trọng của Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng

Văn hóa là động lực của sự phát triển bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội.

Trước đây để phát triển kinh tế người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ là thông tin là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội.

Trong thời đại ngày nay một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động vốn kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa nghĩa là trong ý chí tự lực tự cường và khả năng hiểu biết trong tâm hồn đạo lý lối sống trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.

Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất văn hóa trong quản lý văn hóa trong lối sống văn hóa trong giao tiếp văn hóa trong sinh hoạt gia đình ngoài xã hội văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế... Nói cách khác hàm lượng trí tuệ hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu.

Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ văn hóa phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan của các điều kiện bên trong và bên ngoài bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa cân đối lâu bền.

Trong nền kinh tế thị trường một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân thiện mỹ (cái đúng cái tốt cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật nâng cao tay nghề sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa sùng bái tiền tệ nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền "xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người cũng như những mối liên hệ khác". Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.

Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhâp. Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả nhưng cũng là thách thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt trong đó có cả văn hóa. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại của sự lai căng văn hóa của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường... đã và đang ảnh hưởng làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước...

Cần phải hiểu rằng về mặt kinh tế việc thực hiện chính sách hội nhập để tăng cường liên kết liên doanh với nước ngoài là rất cần thiết. Song mọi yếu tố ngoại sinh như vốn kỹ thuật công nghệ kinh nghiệm quản lý và thị trường của nước ngoài chỉ có thể biến thành động lực bên trong của sự phát triển nếu chúng được vận dụng phù hợp và trở thành các yếu tố nội sinh của con người Việt Nam với truyền thống văn hóa đạo đức tâm hồn lối sống của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức khoa học kinh nghiệm và sự tỉnh táo khôn ngoan chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập phát triển. Bởi lẽ nền văn hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát triển bền vững hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập tự chủ. Hợp tác kinh tế với nước ngoài mà không bị người ta lợi dụng biến mình thành kẻ đi vay nặng lãi thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công giá rẻ thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển giao những công nghệ lạc hậu tiếp nhận lối sống không lành mạnh với những ảnh hưởng văn hóa độc hại...

Vì sự phát triển bền vững văn hóa phê phán lối sống thực dụng chụp giật chạy theo ham muốn quá mức của "xã hội tiêu thụ" dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên ô nhiễm môi trường sinh thái. Như vậy văn hóa đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững...

Văn hóa truyền thống Việt Nam hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa hợp hài hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của con người đối với thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau.

Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc đánh mất bản thân mình trở thành cái bóng mờ của người khác của dân tộc khác.

Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển Đảng ta xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh hiệu quả và bền vững của đất nước. Trong đó nội dung xây dựng văn hóa được xác định: "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" một định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững ./.

Nguồn: TS. Vũ Ngọc Am      


                       

More...

Câu 08: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

By luctranvan

 

Câu 08

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

Nguồn nhân lực

Trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định.

Tuy nhiên vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đặt ra hiện nay và cả tương lai. Nghị quyết Đại hội lần thứ 10 của Đảng nhấn mạnh: Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Bác Hồ từng dạy: con người nếu chỉ có phẩm chất đạo đức tốt bản lĩnh chính trị vững vàng mà thiếu tri thức kiến thức khoa học tức có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên toà sen không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích cho đời. Tri thức trí tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người bởi vì tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ - tức là phải thông qua trí tuệ. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người.

Năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ tiên tiến sự nhạy bén thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật - công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp nghĩa là kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp ... Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của đội ngũ lao động nhằm đạt được năng suất hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần.

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hoá hội nhập quốc tế là hành động chủ quan có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện như vậy người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng ý thức dân tộc cao còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi ít ra là của khu vực. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực lượng nòng cốt lực lượng dẫn đầu và nhân tài.

Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài. Do đó họ phải có một trình độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến. Hơn thế nữa với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức.

Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ quản lý kinh tế - xã hội văn hoá - văn nghệ ... Họ phải thành thạo chuyên môn nghề nghiệp có năng lực tiếp thu chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại những tinh hoa của văn hoá văn minh thế giới những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt Nam. Đồng thời họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.

Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu thiết kế tham mưu sáng tác; thực hiện thi hành ứng dụng phát triển; giáo dục đào tạo bồi dưỡng huấn luyện; quản lý chỉ huy lãnh đạo chỉ đạo... Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động. Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao có năng lực khai phá những con đường mới mẻ trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá. Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết phải đông nhưng thực sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn tiêu biểu cho tinh thần trí tuệ của dân tộc.

Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ. Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mọi người lao động dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh niềm tin và ý chí khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt.

Nền sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt năng lực cần thiết như: có kỷ luật tự giác biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bị máy móc phương tiện sản xuất có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp lương tâm nghề nghiệp ... nghĩa là phải có văn hoá lao động công nghiệp. Một trong những phẩm chất quan trọng nhất của văn hoá lao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm.

 Giờ đây nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường đòi hỏi phải thay đổi kiểu quan hệ đó tức là người tiêu dùng chứ không phải người sản xuất qui định mặt hàng và chất lượng hàng hoá còn người sản xuất phải đáp ứng nhu cầu đó. Trong nền kinh tế thị trường việc sản xuất hàng hoá chất lượng cao với giá cả hợp lý cũng đáp ứng lợi ích của chính người sản xuất. Tuy nhiên cũng chính trong nền kinh tế thị trường dưới áp lực của lợi nhuận của động cơ kiếm tiền bằng mọi cách đã xuất hiện một hiện tượng tiêu cực mới đó là nạn làm hàng giả.

Tình trạng lẫn lộn trắng đen thật giả trong thị trường hàng hoá ngày một tăng đã tác động hết sức xấu đến quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta. Trong khi chưa hạn chế tiến tới chấm dứt nạn làm hàng giả thì chưa thể nói đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế phải có văn hoá lao động vì chỉ có như vậy mới đáp ứng được lợi ích lâu dài của họ cả với tư cách là người sản xuất và người tiêu dùng nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá còn đụng chạm đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Nó đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái vì sự phát triển bền vững nói một cách ngắn gọn là phải có văn hoá sinh thái. Đây là vấn đề cấp bách sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia - dân tộc mà còn đối với nền văn minh nhân loại. Vì vậy bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân bao gồm mọi lứa tuổi song đối với người lao động trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá phải được nâng lên thành văn hoá sinh thái. Khái niệm "văn hoá sinh thái" bao gồm cả quan điểm nhận thức thái độ hành vi lối sống cách ứng xử đúng đắn của người lao động đối với tự nhiên; cả việc phòng ngừa ngăn chặn xử lý hậu quả của sản xuất công nghiệp gây ra; cải thiện môi trường bảo tồn thiên nhiên thích nghi với tự nhiên và đấu tranh chống lại việc tàn phá tự nhiên.

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại giữa dân tộc và thời đại. Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng tình cảm những tập quán thói quen những phong tục lối sống cách ứng xử ý chí v.v. của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại và ở mức độ nhất định có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của tương lai. Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền thống vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn đồng thời tiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để vượt lên để hội nhập để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai chỉ là sự tụt hậu.

Nguồn nhân lực chất lượng cao của thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá phải là "những con người phát triển cả về trí lực và thể lực cả về khả năng lao động về tính tích cực chính trị - xã hội về đạo đức tình cảm trong sáng". Việc xác lập các chuẩn mực định hướng các giá trị xã hội để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Chìa khóa vạn năng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phải nâng cao giáo dục toàn diện đổi mới cơ cấu tổ chức cơ chế quản lý nội dung phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hóa hiện đại hóa xã hội hóa" chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

 

 

More...