Câu 09: Chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em thời kỳ 2001-2010 và quyền trẻ em

Câu 09: Chiến lược chăm sóc sức khỏe trẻ em thời kỳ 2001-2010
Đỗ Nguyên Phương
 

chúng ta đang ở trong giai đoạn giữa hai thế kỷ và hai thiên niên kỷ. Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị các chiến lước phát triển kinh tế xã hội của đất nước cho giai đoạn 2001 - 2010. Trong bối cảnh chung của đất nước Ngành Y tế cũng đang chuẩn bị các định hướng chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ (BVSK) nhân dân giai đoạn này trong đó có vấn đề chăm sóc sức khoẻ trẻ em (CSSKTE).

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhà nước ta đối với công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em không tách rời các quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhà nước đối với công tác CSSK nhân dân đã được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV (khoá VII) về "một số vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và BVSK nhân dân" và Nghị quyết 37 của Chính phủ về "Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và BVSK nhân dân đến năm 2000 2020". Riêng với công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em chúng tôi thấy cần đặc biệt nhấn mạnh một số vấn đề sau:

1. Trẻ em là những người làm chủ đất nước trong tương lai. Đảng và Nhà nước ta luôn muốn tạo cho trẻ em ruột cuộc sống vật chất và tinh thần tốt nhất chuẩn bị cho trẻ em hành trang đầy đủ cả về tri thúc và sức khoẻ từ khi còn trong bào thai đến khi trưởng thành. Muốn cho giống nòi ngày càng tốt thì phải quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của trẻ em. Tình trạng nghèo đói và chậm phát triển kinh tế xã hội của đất nước cản trở lớn đến điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em. Ngược lai một thế hệ trẻ em kém phát triển cả về trí lực và thể lực thì sẽ không thúc đẩy được sự phát triển của đất nước mà còn làm chậm tốc độ phát triển do đó phải dành nguồn lực đầu tư thích đáng cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Thực hiện công bằng trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em vừa là bản chất nhân đạo vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta trong nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong khi các thành phố lớn các khu vực có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội trẻ em được chăm sóc và giáo dục tốt thì tình trạng thiếu ăn suy dinh dưỡng thất học hiện nay tập trung chủ yếu tại các vùng nghèo vùng sâu vùng xa là những nơi khó tiếp cận điều kiện kinh tế còn nghèo như miền núi phía Bắc Tây Nguyên và các huyện xã miền núi của miền Trung một số vùng sâu vùng xa của đồng bằng sông Cửu Long... Bằng các cơ chế chính sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng tạo mọi điều kiện để tất cả trẻ em đều được bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục tốt.

3. Phải thực hiện xã hội hoá công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nhận thức của xã hội về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em còn hạn chế nhất và các bà mẹ là những người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục trẻ em. Nghèo đói thiếu kiến thức nuôi nấng dạy dỗ trẻ em môi trường sống bị ô nhiễm bệnh tật... đều có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể lực và trí lực của trẻ em. Vì vậy công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được coi là nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là ưu tiên thường xuyên đối với các cấp Đảng chính quyền và có sự phối hợp hành động của các Ngành các đoàn thể và sự tham gia tự giác của mỗi gia đình cũng như toàn thể cộng đồng.

4. Phải coi trọng và thực hiện nghiêm quyền được sống và phát triển của trẻ em trong một môi trường lành mạnh; chống mọi biểu hiện xâm hại đến quyền của trẻ em. Thông qua các phương tiện truyền thông làm cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu và thực hiện đúng Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

 

Tóm lại: Việc Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội

 


Quy định về quyền cơ bản của trẻ em trong việc đăng ký khai sinh?

 

Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em: Nghị định số 36/2005/NÐ-CP ngày 17-3-2005 của Chính phủ quy định:Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn. Việc khai sinh cho trẻ em được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

 

10 Quyền Giáo dục Cơ bản của Trẻ em

Nếu bạn cho rằng quyền giáo dục cơ bản chỉ là vấn đề của trẻ em nông thôn và vùng sâu vùng xa và trẻ em nghèo bạn nên nghĩ lại. Nếu bạn cho rằng đây chỉ là nội dung của Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em thuộc về trách nhiệm của Nhà nước của các cấp các ngành quá xa xôi và không liên quan gì đến bản thân bạn con cái của bạn và những người xung quanh bạn cũng nên nghĩ lại. Bài viết sau đây của Rosa-María Torres sẽ giúp bạn nhận thức được những ý nghĩa vô cùng thiết thân và sâu sắc của quyền này đối với chính bản thân mỗi người con em của chính chúng ta và chính ngôi trường nơi bạn hoặc con em bạn học và của cộng đồng và xã hội nơi bạn và gia đình bạn đang sống.

Công ước các quyền của trẻ em (1989) thừa nhận rằng giáo dục là quyền của mọi trẻ em. Bản Tuyên bố Thế giới về Giáo dục cho mọi người (1990) và Hội nghị Thượng đỉnh vì Trẻ em (1990) đã khẳng định rằng tầm nhìn mở rộng về quyền giáo dục cơ bản là nền tảng cho việc học tập của mọi cá nhân.

 

Nếu chúng ta cho rằng giáo dục cơ bản là quyền thiết thân của trẻ em điều đó có hàm ý gì?

 

1. Quyền được là trẻ con được vui chơi và hưởng sự vui chơi được bảo vệ khỏi sự bóc lột lao động trẻ em quyền được có đủ thời gian để đến trường và ở lại trường làm bài tập và học tập. Quyền được có một ngôi nhà và một gia đình; quyền được có một ngôi trường gần nhà có một giáo viên yêu quý trẻ em và say mê dạy học có quyền được hưởng một nền giáo dục chuẩn bị cho các em không chỉ bước vào tuổi trưởng thành mà còn quan trọng nhất là cho các em một tuổi thơ hạnh phúc.

 

2. Quyền được học trong trường và bên ngoài nhà trường. Quyền được tò mò được hỏi và được trả lời có quyền nghi vấn tư duy và tranh luận có quyền mắc lỗi có quyền được người khác hỏi ý kiến và được tham dự có quyền biểu đạt bản thân một cách tự nhiên và tự do được người khác lắng nghe và tôn trọng ý kiến có quyền bất đồng ý kiến tưởng tượng và sáo tạo có quyền học để học. Có quyền được có lòng tự trọng được cha mẹ và thầy cô đặt vào mình nhiều điều trông đợi có quyền cảm thấy vừa tự tin vừa được thách thức về năng lực của bản thân và nhận được sự khen ngợi và khích lệ cho những tiến bộ dù là nhỏ nhất.

3. Có quyền được liên tục học tập ngay từ lúc chào đời một sự liên tục không thỏa hiệp với bất cứ hạn chế nào chỉ trừ chính mối quan tâm và năng lực học của trẻ. Vì những nền tảng của cá tính và tri thức được hình thành từ những năm đầu tiên của cuộc đời và vì đó là thời đoạn diễn ra sự phát triển nhận thức quan trọng nhất và kỳ diệu nhất quyền thiết thân nhất về giáo dục cơ bản của trẻ em chính là quyền được có một khởi đầu thuận lợi cho cuộc sống. Quyền có một tuổi ấu thơ gieo những hạt mầm tốt đảm bảo cho sự lớn khỏe và phát triển trong tương lai.

 

4. Quyền được có một nền học tập thoáng mở ở nhà ở trường trong đời sống hàng ngày trong vui chơi trong tương tác với bạn bè thông qua phương tiện truyền thông đại chúng và trong việc các em tự khám phá thế giới. Quyền được hưởng thụ thư viện sân thể thao bảo tàng công viên vườn bách thú rạp xiếc; quyền được tiếp cận sách vở báo chí truyện tranh tưởng tượng chuyện cổ tích bách khoa toàn thư từ điển băng hình video phim và tác phẩm nghệ thuật; quyền được học không chỉ ở người lớn mà còn cả những trẻ em khác. Quyền được học không chỉ ở người khác mà còn học từ chính trải nghiệm và sai lầm của bản thân từ việc suy ngẫm và bàn luận.

 

5. Quyền được tới trường và ở trường đủ thời gian cần thiết để phát triển tri thức kỹ năng và thái độ cần thiết để sinh tồn quyền được hiểu biết về cơ thể của bản thân và bảo vệ sức khỏe của chính mình quyền được học về văn hóa và gốc rễ của mình; được biểu đạt bản thân thông qua nói và viết; được cân nhắc và giải quyết những vấn đề cơ bản của đời sống hàng ngày; quyền được hiểu kỹ hơn về chính mình và về thế giới xung quanh; quyền được bảo vệ môi trường; quyền được đón nhận những giá trị công lý và đoàn kết; được biết về những quyền và nghĩa vụ của mình; quyền được xây dựng nền tảng cho lòng tự trọng và niềm tự tin và quyền được tiếp tục học mãi.

 

6. Quyền được có một nền giáo dục thiết kế đặc biệt cho trẻ em trong đó tất cả mọi thứ từ quan hệ nội dung và phương những toà nhà và không gian lịch học và thời gian biểu các quy tắc và chuẩn bị -- đều được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của trẻ em chứ không phải của người lớn. Quyền có một nền giáo dục tôn trọng tri thức quan điểm và ước mơ của trẻ. Một nền giáo dục dựa trên niềm vui âm nhạc và vui chơi ngạc nhiên và khám phá di động và tiếng cười chúng không phải là những phụ phẩm kéo theo mà chính là những nguyên liệu gốc sử dụng trong giảng dạy và học tập.

 

7. Quyền được có một nền giáo dục chất lượng và thực tế hướng tới việc học hiểu biết rõ về tầm quan trọng không chỉ của khối lượng mà còn cách thức và chính những nội dung mình sẽ được học. Quyền được có một nền giáo dục hoàn toàn vắng bóng định kiến và thành kiến một nền giáo dục đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và kỳ thị giới tôn trọng sự khác biệt và thừa nhận giá trị của ngôn ngữ và văn hóa riêng của chính trẻ em; một nền giáo dục nhấn mạnh những gì trẻ em biết và có thể làm chứ không phải những gì trẻ không biết và không thể làm; một nền giáo dục ưu tiên sự hợp tác hơn là năng lực đối thoại hơn là độc thoại làm hơn là nói; một nền giáo dục nhằm đạt được ước mơ căn bản của bất kỳ một phụ huynh tử tế và bất kỳ một giáo viên đức hạnh nào: trẻ em và người học phải trở nên tốt đẹp hơn chính bản thân mình.

8. Quyền được có những điều kiện học tập tối thiểu cần thiết để trẻ có thể tận dụng được nhà trường và các cơ hội giáo dục khác và phát triển trọn vẹn khả năng của trẻ. Quyền được có một nền giáo dục cơ bản hỗ trợ mỗi em trai và em gái trong việc đòi hỏi cộng đồng và xã hội của mình cung cấp cho các em không chỉ trường học miễn phí giáo viên được đào tạo chương trình học thực tế và những tư liệu học tập cần thiết mà còn cả những điều kiện kinh tế xã hội và thương yêu không thể thiếu được: dinh dưỡng chăm sóc sức khỏe nhà ở đảm bảo và trên hết sự tôn trọng lòng yêu thương và nâng đỡ tình cảm và một môi trường chung ổn định an toàn và thanh bình.

 

9. Quyền được có cha mẹ cũng được hưởng thụ nền giáo dục cơ bản bởi vì điều này là tối quan trọng cho sự sinh tồn bình an giáo dục và triển vọng tương lai của trẻ. Quyền được có cha mẹ tiếp cận đầy đủ thông tin nhận thức rõ về tầm quan trọng của giáo dục đối với cả con trai lẫn con gái tôn trọng sự vui chơi của con sẵn lòng đối thoại và thuyết phục thay vì trừng phạt. Quyền được có cha mẹ có học vấn trân trọng nỗ lực học tập biết phân biệt giữa giảng dạy có chất lượng và kém chất lượng tham gia vào công việc nhà trường và đồng thuận trong việc đòi hỏi một nền giáo dục có chất lượng. Quyền được có cha mẹ có kiến thức về quyền và nghĩa vụ của chính mình và có sự tự tin và những kiến thức cơ bản để giúp con cái mình trưởng thành học tập và phát triển.

 

10. Quyền được có một nền thông tin đại chúng có trách nhiệm chú trọng đến nhu cầu của trẻ em có khả năng bổ sung và làm cho giáo dục được phong phú hơn: một mạng lưới truyền thông giúp kết nối trẻ ở thành phố với đồng quê và trẻ ở nông thôn với đô thị; mở mang tầm nhìn cho các em về thế giới và đưa các em tới những hiện thực khác đất nước khác và thời đại khác; mở ra cho các em những khả năng và hạn chế của khoa học kỹ thuật hiện đại; cho các em thấy sự vĩ đại cũng như nhỏ nhoi của loài người; xây dựng cho các em năng lực thưởng thức nghệ thuật khoa học và văn hóa thế giới; và vun trồng một thiên hướng hòa bình không bạo lực vị tha đoàn kết và công lý. Giáo dục cơ bản là quyền phổ quát. Quyền này hỗ trợ cho mọi trẻ em: trai và gái giàu và nghèo thành thị thông thôn và vùng sâu vùng xa trẻ có tật trẻ phải đi làm trẻ em người bản địa và các dân tộc thiểu số trẻ có gia đình và trẻ đường phố và những trẻ em buộc phải sơ tán và chuyển dịch vì chiến tranh.
                        Theo: "Tin tức Giáo dục" Bản Tin giáo dục của UNICEF 1995.

 




LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM (09:14 03/12/2005)

LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

 

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Chương I

NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Trẻ em

Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh đối tượng áp dụng

1. Luật này quy định các quyền cơ bản bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Luật này được áp dụng đối với cơ quan nhà nước tổ chức chính trị tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp tổ chức xã hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp tổ chức kinh tế đơn vị sự nghiệp đơn vị vũ trang nhân dân gia đình và công dân Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan tổ chức gia đình cá nhân); tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình cộng đồng.

2. Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình tự kiếm sống nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang.

3. Gia đình thay thế là gia đình hoặc cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

4. Cơ sở trợ giúp trẻ em là tổ chức được thành lập để bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điều 4. Không phân biệt đối xử với trẻ em

Trẻ em không phân biệt gái trai con trong giá thú con ngoài giá thú con đẻ con nuôi con riêng con chung; không phân biệt dân tộc tín ngưỡng tôn giáo thành phần địa vị xã hội chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ đều được bảo vệ chăm sóc và giáo dục được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Trách nhiệm bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình nhà trường Nhà nước xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan tổ chức gia đình cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan tổ chức gia đình cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 6. Thực hiện quyền của trẻ em

1. Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện.

2. Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Cha mẹ bỏ rơi con người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;

2. Dụ dỗ lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi

3. Dụ dỗ lừa dối ép buộc trẻ em mua bán vận chuyển tàng trữ sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán cho trẻ em sử dụng rượu bia thuốc lá chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

4. Dụ dỗ lừa dối dẫn dắt chứa chấp ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em

5. Lợi dụng dụ dỗ ép buộc trẻ em mua bán sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực đồi trụy; làm ra sao chép lưu hành vận chuyển tàng trữ văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất kinh doanh đồ chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em

6. Hành hạ ngược đãi làm nhục chiếm đoạt bắt cóc mua bán đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của người khác

7. Lạm dụng lao động trẻ em sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động

8. Cản trở việc học tập của trẻ em

9. áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm hạ thấp danh dự nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật

10. Đặt cơ sở sản xuất kho chứa thuốc trừ sâu hoá chất độc hại chất dễ gây cháy nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em cơ sở giáo dục y tế văn hoá điểm vui chơi giải trí của trẻ em.

Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình; chủ trì phối hợp với các bộ cơ quan ngang bộ cơ quan thuộc Chính phủ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Y tế Bộ Văn hoá - Thông tin Uỷ ban Thể dục Thể thao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ ngành có liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em theo sự phân công của Chính phủ.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

Điều 9. Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em bao gồm ngân sách nhà nước viện trợ quốc tế ủng hộ của cơ quan tổ chức cá nhân ở trong nước nước ngoài và các nguồn thu hợp pháp khác.

Điều 10. Hợp tác quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Nhà nước có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em với các nước tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng tôn trọng chủ quyền phù hợp với pháp luật mỗi nước và thông lệ quốc tế.

2. Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm:

a) Xây dựng và thực hiện các chương trình dự án hoạt động về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

b) Tham gia các tổ chức quốc tế; ký kết gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

c) Nghiên cứu ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại phục vụ công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

d) Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; trao đổi thông tin và kinh nghiệm về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

4. Các tổ chức quốc tế liên quan đến bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ngoài được hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Chương II

CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM

Điều 11. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

1. Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch.

2. Trẻ em chưa xác định được cha mẹ nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ để xác định cha mẹ theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng

Trẻ em có quyền được chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển thể chất trí tuệ tinh thần và đạo đức.

Điều 13. Quyền sống chung với cha mẹ

Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ.

Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em.

Điều 14. Quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm và danh dự

Trẻ em được gia đình Nhà nước và xã hội tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm và danh dự.

Điều 15. Quyền được chăm sóc sức khoẻ

1. Trẻ em có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.

2. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu được khám bệnh chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.

Điều 16. Quyền được học tập

1. Trẻ em có quyền được học tập.

2. Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí.

Điều 17. Quyền vui chơi giải trí hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch

Trẻ em có quyền vui chơi giải trí lành mạnh được hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch phù hợp với lứa tuổi.

Điều 18. Quyền được phát triển năng khiếu

Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu. Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.

Điều 19. Quyền có tài sản

Trẻ em có quyền có tài sản quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.

Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

1. Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em được bày tỏ ý kiến nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm.

2. Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.

Điều 21. Bổn phận của trẻ em

Trẻ em có bổn phận sau đây:

1. Yêu quý kính trọng hiếu thảo với ông bà cha mẹ; kính trọng thầy giáo cô giáo; lễ phép với người lớn thương yêu em nhỏ đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu người khuyết tật tàn tật người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng của mình

2. Chăm chỉ học tập giữ gìn vệ sinh rèn luyện thân thể thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông giữ gìn của công tôn trọng tài sản của người khác bảo vệ môi trường

3. Yêu lao động giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình

4. Sống khiêm tốn trung thực và có đạo đức; tôn trọng pháp luật; tuân theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh gia đình văn hoá; tôn trọng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

5. Yêu quê hương đất nước yêu đồng bào có ý thức xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế.

Điều 22. Những việc trẻ em không được làm

Trẻ em không được làm những việc sau đây:

1. Tự ý bỏ học bỏ nhà sống lang thang

2. Xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự tài sản của người khác; gây rối trật tự công cộng

3. Đánh bạc sử dụng rượu bia thuốc lá chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

4. Trao đổi sử dụng văn hoá phẩm có nội dung kích động bạo lực đồi trụy; sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh.

Chương III

TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Điều 23. Trách nhiệm đăng ký khai sinh

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.

2. Uỷ ban nhân dân xã phường thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em; vận động cha mẹ người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn.

3. Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh.

Điều 24. Trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng

1. Cha mẹ người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em; khi gặp khó khăn tự mình không giải quyết được có thể yêu cầu và được cơ quan tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em.

2. Cha mẹ người giám hộ các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình phải gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ hạnh phúc tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

3. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm chăm lo chế độ dinh dưỡng phù hợp với sự phát triển về thể chất tinh thần của trẻ em theo từng lứa tuổi.

4. Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên có trách nhiệm chăm sóc giáo dục con theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ

1. Cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống chung với mình.

2. Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thì việc giao nhận trẻ em làm con nuôi đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam phải theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp trẻ em có cha mẹ chấp hành hình phạt tù trong trại giam mà không còn nơi nương tựa thì Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em tại gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em.

Điều 26. Trách nhiệm bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự

1. Gia đình Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em.

2. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng thân thể nhân phẩm danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Trách nhiệm bảo vệ sức khỏe

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe tiêm chủng khám bệnh chữa bệnh cho trẻ em.

2. Cơ sở y tế công lập có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu phòng bệnh chữa bệnh cho trẻ em.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tổ chức y tế học đường.

Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng tránh bệnh học đường và các bệnh khác cho trẻ em.

4. Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế đa dạng hoá các loại hình dịch vụ khám bệnh chữa bệnh; có chính sách miễn giảm phí khám bệnh chữa bệnh và phục hồi chức năng cho trẻ em; bảo đảm kinh phí khám bệnh chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi.

Trong cân đối kế hoạch ngân sách hàng năm của Bộ Y tế và của Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) Chính phủ dành riêng một khoản ngân sách để bảo đảm cho việc khám bệnh chữa bệnh không phải trả tiền cho trẻ em dưới sáu tuổi ở các cơ sở y tế công lập trung ương và địa phương.

5. Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân hoạt động nhân đạo từ thiện ủng hộ kinh phí chữa bệnh cho trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo.

Điều 28. Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập

1. Gia đình Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn.

2. Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức tri thức thẩm mỹ thể chất giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em; chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông phải có điều kiện cần thiết về đội ngũ giáo viên cơ sở vật chất thiết bị dạy học để bảo đảm chất lượng giáo dục.

4. Người phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong nhà trường phải được đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ có sức khoẻ phẩm chất đạo đức tốt yêu nghề yêu trẻ được tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ.

5. Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục mầm non giáo dục phổ thông; chính sách miễn giảm học phí cấp học bổng trợ cấp xã hội để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục.

Điều 29. Trách nhiệm bảo đảm điều kiện vui chơi giải trí hoạt động văn hóa nghệ thuật thể dục thể thao du lịch

1. Gia đình nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi giải trí hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao du lịch phù hợp với lứa tuổi.

2. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quy hoạch đầu tư xây dựng điểm vui chơi giải trí hoạt động văn hóa nghệ thuật thể dục thể thao cho trẻ em thuộc phạm vi địa phương.

Không được sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập sinh hoạt vui chơi giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em.

3. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ trẻ em vui chơi giải trí.

4. Trên xuất bản phẩm đồ chơi chương trình phát thanh truyền hình nghệ thuật điện ảnh nếu có nội dung không phù hợp với trẻ em thì phải thông báo hoặc ghi rõ trẻ em ở lứa tuổi nào không được sử dụng.

Điều 30. Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu

1. Gia đình nhà trường và xã hội có trách nhiệm phát hiện khuyến khích bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em.

2. Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em; tạo điều kiện cho nhà văn hoá thiếu nhi nhà trường và tổ chức cá nhân thực hiện việc bồi dưỡng phát triển năng khiếu của trẻ em.

Điều 31. Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự

1. Cha mẹ người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

2. Cha mẹ người giám hộ hoặc cơ quan tổ chức hữu quan phải giữ gìn quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật.

Điều 32. Trách nhiệm bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

1. Gia đình Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em.

2. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi.

Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình cơ quan tổ chức có trách nhiệm:

1. Tuyên truyền vận động giáo dục về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

2. Phát triển phúc lợi xã hội cho trẻ em tạo cơ hội thuận lợi để trẻ em thực hiện quyền bổn phận và phát triển toàn diện về thể chất trí tuệ tinh thần và đạo đức

3. Cung cấp dịch vụ chăm sóc trợ giúp trẻ em.

Điều 34. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm:

a) Tuyên truyền giáo dục đoàn viên hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em

b) Vận động gia đình xã hội thực hiện tốt việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

c) Chăm lo bảo vệ quyền lợi của trẻ em giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em.
2. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức hữu quan để tổ chức hướng dẫn việc nuôi con khoẻ dạy con ngoan.

3. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn hoạt động của thiếu niên nhi đồng; phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.

Điều 35. Trách nhiệm của cơ quan thông tin tuyên truyền

1. Tuyên truyền phổ biến đường lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Giới thiệu mô hình điển hình tiên tiến người tốt việc tốt trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; phát hiện phê phán hành vi vi phạm quyền của trẻ em trẻ em vi phạm những việc không được làm.

Điều 36. Trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật

1. Thực hiện hoặc phối hợp với cơ quan tổ chức hữu quan thực hiện việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em; chủ động phòng ngừa kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Phối hợp với gia đình nhà trường và xã hội để giáo dục đối với những trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật.

3. Việc xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ để trẻ em nhận thấy sai lầm sửa chữa sai lầm và tiến bộ.

Điều 37. Trách nhiệm của Nhà nước

1. Nhà nước có chính sách đầu tư thực hiện xã hội hóa mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho trẻ em là con thương binh liệt sỹ người có công trẻ em dân tộc thiểu số trẻ em của hộ nghèo trẻ em cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các quyền của trẻ em; có chính sách hỗ trợ gia đình thực hiện trách nhiệm bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

3. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em của các gia đình chưa có hộ khẩu thường trú được đăng ký khai sinh học tập và chăm sóc sức khoẻ tại nơi mà cha mẹ đang làm việc sinh sống.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát triển mạng lưới trường học cơ sở y tế nhà văn hóa cơ sở thể thao điểm vui chơi giải trí cho trẻ em; khuyến khích tổ chức cá nhân thành lập cơ sở tư vấn cho trẻ em cha mẹ người giám hộ và nhân dân về việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 38. Bảo trợ các hoạt động vì sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nhà nước bảo trợ các công trình khoa học và công nghệ các tác phẩm văn học nghệ thuật mọi sáng kiến việc làm có lợi cho sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; khuyến khích các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế dành một phần quỹ phúc lợi hoặc lợi nhuận vào việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Điều 39. Quỹ bảo trợ trẻ em

1. Quỹ bảo trợ trẻ em được thành lập nhằm mục đích vận động sự đó