Hướng dẫn ôn môn Triết học Mác Lênin - Ebook

By luctranvan

 

 

Phát hành: Nhiều tác giả   
Dung lượng: 483.39 KB
Sử dụng: Miễn phí  
Yêu cầu: định dạng PDF
                               
Tải về máy: tại đây

 


 

More...

Nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam

By luctranvan


  • Phạm Văn Đức
    Tạp chí Triết học  



    Bài viết đề cập đến hai nội dung cơ bản: một số thành quả và vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam. Trên cơ sở luận giải làm rõ các kết quả trong nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển về các quy luật và các phạm trù cơ bản... của phép biện chứng duy vật tác giả cho rằng những nghiên cứu đó đã góp phần truyền bá thế giới quan duy vật biện chứng xây dựng cơ sở phương pháp luận cho nhận thức của hoạt động thực tiễn. Đồng thời tác giả cũng nêu rõ những vấn đề đặt ra hiện nay cả ở nghiên cứu cơ bản lẫn nghiên cứu ứng dụng mà những người làm công tác nghiên cứu lý luận nói chung nghiên cứu triết học nói riêng ở Việt Nam cần quan tâm và giải quyết một cách hiệu quả nhằm phát huy vai trò của triết học đối với thực tiễn xây dựng đất nước.


    Năm 2000 Viện Triết học đã thực hiện đề tài cấp Bộ. Nhìn lại 55 năm nghiên cứu triết học ở Việt Nam: một số vấn đề chủ yếu. Có thể nói đề tài đó đã tổng kết một các khá đầy đủ những kết quả mà giới triết học Việt Nam đã thu được trong hơn nửa thế kỷ qua đồng thời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới. Riêng trong phần chủ nghĩa duy vật biện chứng các tác giả đã tập trung đánh giá lại những thành tựu đã đạt được trên các mặt như: nghiên cứu vấn đề vật chất và ý thức nghiên cứu về phép biện chúng duy vật. 

    Trong bài viết này chúng tôi không trình bày lại một cách chi tiết những kết quả cụ thể mà chỉ nêu lên một số nhận định khái quát trên cơ sở đó trình bày những vấn đề hiện đang đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu này.

    Trong hơn nửa thế kỷ qua những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu các quan niệm khác nhau về vật chất và ý thức mối quan hệ vật chất ý thức nhất là quan niệm của triết học Mác - Lênin về các vấn đề này. Đặc biệt nhiều nghiên cứu đã tập trung làm sáng tỏ phân tích quan điểm của C.Mác Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về hai phạm trù cơ bản và rộng nhất của triết học cũng như mối quan hệ giữa chúng. Song để có những công trình nghiên cứu chuyên sâu có tầm cỡ về vấn đề này và nhất là để có những nghiên cứu có giá trị làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho hoạt động cải tạo thực tiễn và nhận thức khoa học những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học cần có sự đầu tư công sức nhiều hơn nữa đồng thời cần có sự hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học trong các lĩnh vực khoa học khác đặc biệt là với các nhà khoa học tự nhiên.

    Cũng như những vấn đề xung quanh các phạm trù vật chất ý thức và mối quan hệ giữa chúng trong hơn nửa thế kỷ qua phép biện chứng duy vật đã được nghiên cứu khá toàn diện. 

    Trước hết cần khẳng định rằng trong các tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định phép biện chứng duy vật như là "khoa học về mối liên hệ phổ biến" và là "khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy” kế thừa và phát triển những tư tưởng đó V.I.Lênin đã coi "phép biện chứng là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển".

    Căn cứ vào những chỉ dẫn trên đây của các tác gia kinh điển các nhà triết học macxít ở Liên Xô đã phân chia phép biện chứng duy vật thành ba bộ phận chủ yếu đó là: hai nguyên lý ba quy luật và sáu cặp phạm trù. Ở Việt Nam trong các giáo trình triết học nội dung của phép biện chứng cũng được quan niệm tương tự như vậy. Ở đây chúng ta không bàn đến tính hợp lý hay không hợp lý của quan niệm trên đây về nội dung của phép biện chứng mà lấy đó làm căn cứ để xem xét những cái đã làm được và những cái cần tiếp tục làm trong thời gian tới. 

    Trong số hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sụ phát triển thì nguyên lý về sự phát triển được quan tâm nghiên cứu nhiều mặc dù kết quả của sự nghiên cứu đó còn khiêm tốn.

    Nếu như trước đây ở Liên Xô lý thuyết về sự phát triển được nghiên cứu một cách khá bài bản và trên nhiều khía cạnh thì ở Việt Nam do những nguyên nhân khác nhau nguyên lý về sự phát triển chỉ được triển khai trên ba hướng chủ yếu sau: Theo hướng thử nhất một số tác giả đã tập trung làm rõ các khái niệm có liên quan đến phạm trù phát triển như vận động tiến bộ phát triển.

    Theo hướng thứ hai một số tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề nguồn gốc động lực của sự phát triển mà đặc biệt là của sự phát triển xã hội. Có thể nói trong những năm vừa qua đặc biệt từ nám 1990 trở lại đây hướng nghiên cứu này đã được khai thác khá nhiều. Sở đĩ như vậy là vì bắt đầu từ giữa những năm 80 khi bắt tay vào công cuộc đổi mới chúng ta ngày càng nhận ra vai trò động lực đặc biệt của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó vấn đề được đặt ra là làm thế nào khai thác được động lực ấy và sử dụng được nó một cách có hiệu quả để thúc đẩy quá trình vận động và phát triển xã hội. 

    Theo hướng thứ ba một số tác giả đã nghiên cứu triết lý phát triển của Việt Nam. Từ năm 1997 đến năm 2000 Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã có một chương trình nghiên cứu triết lý phát triển của Việt Nam. Các tác giả tham gia chương trình này đã tập trung nghiên cứu các vấn đề như: sự khác nhau giữa triết học và triết lý quan điểm của C.Mác Ph.Ăngghen V.ILênin và Hồ Chí Minh về triết lý của sự phát triển triết lý về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên giữa cái kinh tế và cái xã hội giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh. 

    Có thể nói những công trình nghiên cứu về động lực của sự phát triển triết lý về sự phát triển trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào việc cụ thể hoá nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật trong lĩnh vực xã hội. 

    Cùng với nguyên lý về sự phát triển các quy luật cơ bản của phép biện chứng cũng đã được chú ý nghiên cứu một cách thích đáng hơn. Một số công trình nghiên cứu mang tính chất cơ bản và ứng dụng đã được công bố.

    Trước hết cần nói đến các nghiên cứu xung quanh phạm trù quy luật. Đây là phạm trù hết sức cơ bản của phép biện chứng duy vật. Phạm trù đó đã được các nhà triết học trong lịch sử bàn luận tương đối nhiều và tưởng như mọi thứ đã trở nên rõ ràng không còn vấn đề gì phải tranh luận. Nhưng đến năm 1986 khi Đảng ta nêu ra "Bài học về tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan" thì vấn đề nội dung của phạm trù quy luật lại bắt đầu được đặt trở lại. Bởi lẽ để tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan thì điều quan trọng trước tiên là cần phải hiếu thế nào là quy luật?

    Trước yêu cầu đó trong khoảng mươi năm gần đây một số tác giả đã xem xét phạm trù quy luật dưới góc độ lịch sử tập trung làm rõ các quan điểm khác nhau trong lịch sử triết học về quy luật trên cơ sở đó nêu lên những đặc trưng cơ bản nhất của phạm trù đó. Một số tác giả khác xem xét mối quan hệ giữa phạm trù quy luật với các phạm trù khác của phép biện chứng duy vật để từ đó vạch ra sự tương đồng và khác biệt giữa phạm trù quy luật và các phạm trù khác của phép biện chứng duy vật. Ngoài ra phạm trù quy luật còn được xem xét trong mối tương quan với phạm trù mâu thuẫn... 

    Trong số ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: quy luật mâu thuẫn (hay quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) quy luật lượng chất và quy luật phủ định của phủ định thì trong những năm qua quy luật mâu thuẫn được tập trung nghiên cứu nhiều hơn cả. Sở dĩ như vậy không phải chỉ vì quy luật mâu thuẫn là quy luật cơ bản nhất hay nói như Lênin là "hạt nhân" của phép biện chứng mà chủ yếu là vì trong những năm qua nhiều vấn đề thực tiễn đã đặt ra một cách hết sức cấp bách và muốn giải quyết chúng buộc phải trở lại những vấn đề cơ bản có liên quan đến nội dung của quy luật mâu thuẫn. Chẳng hạn khi nghiên cứu những mâu thuẫn cơ bản của xã hội ta hiện nay chúng ta buộc phải giải quyết những vấn đề hết sức cơ bản như mâu thuẫn là gì các loại mâu thuẫn các cách thức giải quyết mâu thuẫn... Có thể nói trong những năm qua nhiều đề tài trong đó có cả đề tài cấp nhà nước nhiều bài báo một số cuốn sách chuyên khảo và Luận án Tiến sĩ đã giải quyết những vấn đề thực tiễn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy luật mâu thuẫn.

    Về các phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật thì kể từ năm 1986 đến nay ngoài cặp phạm trù khả năng và hiện thực đã được nghiên cứu một cách tương đối chuyên sâu các cặp phạm trù khác của phép biện chứng duy vật ít được nghiên cứu chuyên sâu hơn. Ngoài những bài báo những luận án tiến sĩ luận văn thạc sĩ bàn trực tiếp đến nội dung của một số cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật hầu như không có một chuyên khảo nào bàn sâu đến một cặp phạm trù nào đó như cặp phạm trù khả năng và hiện thực mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Đây cũng là một mảnh đất trống nữa mà những người làm công tác nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng phải quan tâm. Thực tiễn xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề có liên quan đến nội đung của các phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng cần tập trung công sức nghiên cứu. 

    Như vậy có thể nói các thành quả mà những người nghiên cứu triết học đạt được trong lĩnh vực chủ nghĩa duy vật biện chứng như đã trình bày ở trên là đáng kể. Những nghiên cứu đó đã góp phần truyền bá thế giới quan duy vật biện chứng góp phần làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành cơ sở phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đồng thời các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hơn nửa thế kỷ qua là tương đối đa dạng đi sâu vào từng khía cạnh từng quy luật hoặc một vấn đề cụ thể nào đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nếu trừu tượng hoá đi các nghiên cứu cụ thể chúng ta có thể nhận thấy các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng đi theo hai hướng chủ yếu: 

    1) Theo hướng nghiên cứu cơ bản và 

    2) Theo hướng nghiên cứu ứng dụng tức là đi vào những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra nhưng có liên quan đến nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 

    Theo hướng nghiên cứu cơ bản những người làm công tác nghiên cứu triết học một mặt đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa C.Mác - Lênin trên cơ sở đó có sự điều chỉnh chính xác hoá những cách hiểu khác nhau để từ đó ngày càng có được cách hiểu chính xác hơn mặt khác nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó trên cơ sở ấy đề ra những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. 

    Theo hướng nghiên cứu ứng dụng những người làm công tác nghiên cứu triết học tập trung vào những vấn đề đó thực tiễn xã hội đặt ra bằng cách áp dụng những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong những năm qua số công trình nghiên cứu theo hướng này nhiều hơn. Bởi lẽ các nghiên cứu như vậy gần đây được đầu tư nhiều hơn và đồng thời cũng dễ thực hiện hơn. Chúng tôi cho rằng cả hai hướng nghiên cứu đó đều rất cần thiết. Trong tương lai các hướng nghiên cứu như vậy cần được tiếp tục triển khai. Tuy nhiên phải thẳng thắn thừa nhận rằng so với yêu cầu phát triển của chuyên ngành và của thực tiễn thì những kết quả đạt được trong thời gian qua còn khá khiêm tốn. Vì vậy theo chúng tôi để góp phần làm cho các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn cần kết hợp một cách chặt chẽ hơn nữa giữa các nghiên cứu cơ bản và các nghiên cứu ứng dụng. 

    Trước hết trong các nghiên cứu cơ bản cần đầu tư và tìm cách khắc phục những "mảng trống" trong nội đung của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Như đã trình bày ở trên những "mảng trống" trong chủ nghĩa duy vật biện chứng còn khá nhiều. Trong số đó không ít những "mảng trống" rất cần được nghiên cứu để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Ngay cả những vấn đề đã được nghiên cứu gọi là tương đối nhiều thì không phải mọi thứ đều đã có câu trả lời rõ ràng. Thêm vào đó cuộc sống hiện nay đã và đang đặt ra và đặt lại nhiều vấn đề triết học khá căn bản.

    Chẳng hạn ngay vấn đề vật chất ý thức và mối quan hệ giữa chúng đã và đang có những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo về mặt khoa học. Như mọi người đều biết một nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng là "trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động mà vật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong không gian và thời gian". Còn ý thức chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó ý thức là sản phẩm của bộ óc con nhười là sự phản ánh tự giác ít nhiều các sự vật hiện tượng và quá trình hiện thực của thế giới vật chất nói như Lênin đó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. 

    Như vậy theo quan điểm của những người sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng trong quan hệ giữa vật chất và ý thức vật chất là cái tồn tại độc lập với ý thức và quyết định nội đung của ý thức còn ý thức là cái bị quyết định và phụ thuộc vào vật chất. Nhưng chủ nghĩa duy vật biện chứng còn đi xa hơn chủ nghĩa duy vật trước Mác khi thừa nhận sự tác động tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất coi ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất thông qua hoạt động của con người. Nhưng xung quanh nguyên lý cơ bản này hàng loạt vấn đề lý luận đang được đặt ra như phải chăng vật chất xét đến cùng cái đóng vai trò quyết định còn ở những giai đoạn nhất định thì ý thức lại đóng vai trò quyết định? Nếu vật chất luôn luôn đóng vai trò quyết định và ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất thì sự đẩy nhanh và kìm hãm đó là vô hạn hay chỉ giới hạn trong phạm vi nào và với những điều kiện nào thì ý thức mới có được vai trò như vậy? Có thể nói không chỉ có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà nhiều mối quan hệ của các phạm trù khác của triết học Mác như mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan cũng đặt ra những vấn đề tương tự như vậy. Tình hình đó đòi hỏi những người nghiên cứu và giảng dạy triết học phải có câu trả lời sáng rõ và cụ thể hơn về những vấn đề mang tính nguyên lý cơ bản của triết học. 

    Bên cạnh đó sự phát triển của khoa học và thực tiễn cũng đang đặt ra những vấn đề xung quanh vật chất và ý thức cũng như mối quan hệ giữa chúng. Hàng loạt vấn đề thuộc về ý thức và tâm linh con người đang đòi hỏi triết học phải có câu trả lời như ý thức là sự phản ánh của vật chất hay có sự tồn tại độc lập bên ngoài của thế giới đó những hiện tượng tìm mộ hay nói chuyện với người âm là hiện tượng có thật hay chỉ là ảo thuật của các thày gọi hồn... Đứng về mặt khoa học đó là những hiện tượng cần phải được lý giải một cách nghiêm túc. Khi khoa học chưa giải quyết được thấu đáo thì đó lại là mảnh đất cho tôn giáo phát triển. 

    Hoặc khi nói về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thực tiễn là cơ sở là động lực đồng thời là tiêu chuẩn của chân lý. Nhưng bản thân các ông lại khẳng định rằng tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối và xét đến cùng ngoài thực tiễn để kiểm tra tính đúng đắn của chân lý còn cần sử dụng các tiêu chuẩn khác chẳng hạn như tiêu chuẩn logic. Vấn đề đặt ra là tiêu chuẩn thực tiễn có mối quan hệ như thế nào với tiêu chuẩn logic và nên hiểu tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn như thế nào và vận dụng nó ra sao trong quá trình kiểm tra tính đúng đắn tính chân lý của nhận thức… Có thể nói còn rất nhiều vấn đề tương tự như vậy cần được nghiên cứu thấu đáo về mặt lý luận và để nghiên cứu những vấn đề đó thì cần phải có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa những người làm công tác triết học với những người làm công tác nghiên cứu của các ngành khoa học khác. Cái khó cho những người nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng hiện nay là để nghiên cứu tất những vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng người nghiên cứu phải nắm được những kiến thức nhất định về khoa học hiện đại đặc biệt là khoa học tự nhiên. Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: "muốn có một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về tự nhiên thì người ta phải biết toán học và khoa học tự nhiên". Bản thân Ph.Ăngghen cũng đã từng bỏ ra phần lớn thời gian trong tám năm để học toán học và khoa học tự nhiên. Nhưng đối với nước ta hiện nay việc tìm được một người vừa giỏi triết học vừa thạo khoa học tự nhiên là quá khó.

    Theo chúng tôi các nghiên cứu cơ bản là tiền đề và cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng. Các nghiên cứu ứng dụng chỉ có thể có hiệu quả nếu được dựa trên một cơ sở vững chắc đó là các nghiên cứu cơ bản. Lúc quả sinh thời Lênin đã từng nhận xét rằng "người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung thì đó trên mỗi bước đi sẽ không sao tránh khỏi "vấp phải" những vấn đề chung đó một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải vấn đề đó trong những trường hợp riêng thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc". Có thể coi những nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu giải quyết các vấn đề chung còn những nghiên cứu ứng dụng là những nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Vì vậy để có những nghiên cứu ứng dụng tất có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra cần phải có những nghiên cứu cơ bản tất. Đương nhiên để có những nghiên cứu cơ bản tốt đó là việc làm không đơn giản bởi lẽ các nghiên cứu cơ bản mặc dù ở nước ta không nhiều nhưng trên thế giới đã được tiến hành một cách khá bài bản.

    Song trong điều kiện nước ta đó điều kiện về đội ngũ trình độ của đội ngũ những người làm công tác triết học và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu cơ bản cũng cần căn cứ vào nhu cầu của thực tiễn và để giải quyết những vấn đề do thực tiễn trước mắt đặt ra đồng thời cũng phải biết dự báo trước những nhu cầu sắp tới của đất nước.

    Thứ hai bên cạnh các nghiên cứu cơ bản cần tiến hành nghiên cứu những vấn đề đó thực tiễn xã hội đặt ra. Đây là hướng nghiên cứu hết sức quan trọng là sự vận dụng những kiến thức cơ bản để giải quyết những vấn đề thực tiễn làm cho triết học gắn bó hơn với thực tiễn. 

    Tuy nhiên ở đây cần phải lưu ý rằng hiệu quả của các nghiên cứu ứng dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng không giống như hiệu quả của các ngành khoa học - kỹ thuật khác và cũng không giống với hiệu quả của sản xuất trực tiếp. Nhìn chung các kết quả đã nghiên cứu triết học mang lại không góp phần giải quyết một cách trực tiếp cụ thể cho rằng vấn đề cụ thể vô cùng đa dạng của cuộc sống mà chỉ là cơ sở có tính chất định hướng cho các lời giải đáp trực tiếp cụ thể đó.

    Như vậy hiệu quả của nghiên cứu ứng dụng phép biện chứng duy vật thể hiện ở sự định hướng cho hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú và đa dạng của những kết luận chung và khái quát cao mà các nghiên cứu đem lại chứ không phải là những cách giải quyết cụ thể cho từng vấn đề cụ thể. Có thể nói nhiều khi hiệu quả của những kết luận mà triết học đem lại đối với xã hội là vô cùng to lớn là vô giá mà không thể nào tính thành tiền được. Bởi những kết luận đó có thể làm thay đổi cả xu hướng hoạt động của xã hội. 

    Chúng tôi cho rằng cũng như bất kỳ một ngành khoa học nào khác triết học nói chung chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng có nhiệm vụ góp phần thiết thực vào việc giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống. Nhưng để có nhiều đóng góp thiết thực những người làm công tác triết học phải đứng từ góc độ chuyên môn của mình bằng con đường riêng thông qua cách thức riêng của triết học chứ không hoàn toàn giống các khoa học khác. Nếu không chú ý đến nét đặc thù của triết học đến đúng góc độ mà từ đấy triết học cần phải làm để góp phần mình vào việc đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn thì những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học dễ bị lấn sân sang lĩnh vực của các môn khoa học khác lĩnh vực mà họ không hiểu biết một cách thấu đáo. Trong trường hợp đó chắc chắn hiệu quả đóng góp của những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học sẽ không cao. 

    Xuất phát từ quan niệm như vậy chúng tôi cho rằng để gắn các nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng với thực tiễn làm cho các nghiên cứu đó phục vụ thực tiễn có hiệu quả hơn và đúng góc độ chuyên môn của mình nhiệm vụ của các nhà triết học không phải tự mình lao vào giải quyết từng vấn đề cụ thể mà phải đi sâu nghiên cứu và giải quyết những vấn đề triết học nảy sinh từ vấn đề cụ thể do thực tiễn đất nước đề ra và thông qua đó góp phần hoàn thiện lý luận triết học.

    Cuối cùng mục đích của các nhà nghiên cứu triết học nói chung chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng không phải chỉ để nghiên cứu mà nhằm phục vụ thực tiễn. Vì vậy để các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng gắn bó với thực tiễn phục vụ một cách thiết thực cho hoạt động thực tiễn các nghiên cứu đó phải có nhiệm vụ phản biện cho các chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước. Điều đó có nghĩa là từ các nghiên cứu của mình những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy có nhiệm vụ góp tiếng nói phản biện cho các chủ trương đường lối của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước để trên cơ sở đó các cơ quan Đảng và Nhà nước có đủ căn cứ để đưa ra các quyết sách một cách hợp lý nhất đúng đắn nhất.

    Thực ra phản biện là một chức năng không thể thiếu được của bất kỳ một khoa học nào. Cũng như bất kỳ một khoa học nào khác triết học nói chung phải có chức năng phản biện. Nhưng do tính chất đặc thù của triết học là nghiên cứu những vấn đề có liên quan chặt chẽ với chủ.trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nên các nghiên cứu triết học thường gắn chặt với chính trị và mang tính nhạy cảm. Vì vậy để thực hiện tốt chức năng đó cần có một cơ chế dân chủ đối với những người làm công tác lý luận nói chung đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học nói riêng để sao cho mọi người có thể trình bày thẳng thắn các ý kiến của biện của các nghiên cứu triết học có hiệu quả những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học không những phải đầu tư và cần được đầu tư để nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn phải có trách nhiệm chính trị trước dân tộc và đất nước.

    Nguồn: Tạp chí Triết học




More...

Những tư tưởng cơ bản của Hegel về logic học với tính cách là logic biện chứng

By luctranvan


  • TS. Nguyễn Đình Tường

    Tạp chí khoa học xã hội  


    Thông thường để xây dựng một hệ thống triết học của mình thì mỗi triết gia đều phải xuất phát từ điểm xuất phát triết học riêng biệt. Theo Ăngghen điểm xuất phát đó là vấn đề cơ bản của triết học mà nó được giải quyết trên lập trường của từng triết gia. Hegel cho rằng điểm xuất phát đó có một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nên học thuyết triết học mới. Nó có thể khắc phục được những hạn chế của các học thuyết đã có từ trước. Chính vì vậy Hegel đã xác định điểm xuất phát triết học của ông là sự đồng nhất duy tâm giữa tư duy và tồn tại hay là ý niệm tuyệt đối. Nói một cách khác Hegel là nhà triết học duy tâm khách quan nghĩa là đối với ông tư tưởng của chúng ta không phải là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan trái lại những sự vật và hiện tượng trong thế giới là sự thể hiện của ý niệm tuyệt đối mà ý niệm này tồn tại trước khi thế giới xuất hiện.

    Căn cứ vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối mà Hegel đã cấu trúc hệ thống triết học của ông thành logic học Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần. Bài viết này muốn đề cập đến những tư tưởng của Hegel về logic học với tính cách là logic biện chứng trong hệ thống triết học Hêghen.

    Theo Hêghen đồng nhất giữa tư duy và tồn tại cũng có nghĩa là những quy luật của tư duy được logic học nghiên cứu thực chất cũng là những quy luật của tồn tại (của tự nhiên của lịch sử). Vì vậy logic học là bộ phận sinh động nhất của hệ thống triết học Hêghen bởi vì trong đó phép biện chứng của ông đã được thể hiện một cách đầy đủ nhất. 

    Để xây dựng logic học mới với tính cách làlogic biện chứng Hegel đã nghiên cứu toàn bộ quá trình phát triển của logic hình thức cổ điển trước đây. Tuy không phủ nhận ý nghĩa và vai trò của logic hình thức trong lịch sử nhận thức nhưng Hegel đã chỉ ra những hạn chế của nó. Theo Hêghen logic học trước ông là khoa học về những hình thức tư duy chủ quan vì vậy nó chưa đầy đủ. chưa đáp ứng được với sự phát triển của triết học và khoa học. Trên cơ sở đó Hegel đã sáng tạo ra một hệ thống logic học mới - logic biện chứng nhằm đem lại cho triết học một phương pháp luận mới đó là phép biện chứng. Phép biện chứng của Hegel là một trong những thành tựu quí giá nhất của triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học trước Mác nói chung. Tuy nhiên Hegel đã sáng tạo logic biện chứng trên lập trường duy tâm. ông đã xuất phát từ cơ sở đồng nhất giữa tư duy và tồn tại khi coi những qui luật của tự nhiên của lịch sử cũng là những quy luật của tư duy. Để lý giải điều này Hegel cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới một cách tuyệt đối và đầy đủ nghĩa là tư duy con người nhận thức được thế giới tự nhiên và xã hội. Từ đó ông coi tư duy là bản chất của chúng. Đồng thời quan niệm của Hegel về sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể không giống như quan niệm của chủ nghĩa duy vật mà ông coi nó như là sự đồng nhất hoàn toàn của chúng. Điều này có nghĩa là đối với Hegel khách thể của tư duy không khác biệt với bản thân tư duy. Những khách thể của tư duy thực chất chỉ là những quy định của chính tư duy mà thôi. Theo Hêghen tư duy ở đây hoàn toàn không được xem xét như là sản phẩm đặc biệt của bộ óc con người như là nét đặc thù của con người. Hegel đồng nhất tư duy với hoạt động của ý niệm tuyệt đối với tư cách là cơ sở của mọi sự vật hiện tượng của thế giới. Hơn nữa tư duy đồng thời vừa là khách thể vừa là chủ thể nó vừa là những gì đang tư duy vừa là những gì được tư duy. Tuy nhiên Hegel cũng thừa nhận cảm giác trực giác biểu tượng mong muốn là những hình thức của ý thức con người. Nhưng tất cả chúng đối với ông chỉ là những thể hiện không đầy đủ là những nét hoa văn bên ngoài của tư duy tư tưởng. Vì vậy vật chất theo ông cũng thuộc về tư duy tư tưởng mà thôi. Hegel cho rằng đối tượng đúng đắn của tư tưởng chính là bản thân tư tưởng vì tư tưởng là chân lý của mọi sự vật. Cho nên sự phát triển cũng cần phải được tiến hành theo những quy luật của tư tưởng theo những quy luật của logic học. Chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối của Hegel vì vậy còn được xác định như là chủ nghĩa duy tâm logic. Ý niệm tuyệt đối là tư duy về tư duy đồng thời cũng có nghĩa là tự nhận thức là sự mở rộng những xác định logic vốn có đối với nó. Những phạm trù là những xác địnhlogic này hơn nữa chúng còn thề hiện sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Theo Hêghen những phạm trù không phải là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan mà là những khái niệm thuần túy.

    Trong "Khoa họclogic" Hegel đã thể hiện tư tưởng về Thượng đế có trước khi thế giới và con người xuất hiện. Đây là tính qui luật của ý niệm tuyệt đối tồn tại trước bản thân thế giới và như là thuộc tính siêu nhiên nào đó của thần thánh. Theo Ăngghen trong Cơ đốc giáo thế giới được sáng tạo một cách đơn giản bởi Thượng đế còn trong triết học Hegel thì sự sáng tạo này có hình thức phức tạp và khó hiểu hơn. Theo Hêghen logic học "thể hiện Chúa trong bản chất vĩnh hằng của Đức chúa trước khi sáng tạo ra giới tự nhiên và các tinh thần hữu hạn" tức là những con người cụ thể.

    Như đã nêu trên những phạm trù trong triết học Hegel không phải là sự phản ánh thế giới khách quan nhưng điều đó không có nghĩa là chúng hoàn toàn không chứa đựng một nội dung gì cả. Trái lại những phạm trù của Hegel còn có ý nghĩa bản thể luận. Một trong những sự khác biệt giữa triết học Hegel và Cantơ cũng chính là ở điểm này. Theo Cantơ những phạm trù không có mối liên hệ nào với thế giới hiện thực khách quan chúng là sản phẩm của ý thức con người. Vì vậy những phạm trù tự chúng không chứa đựng nội dung khách quan. Còn ở Hegel thì những phạm trùlogic không phải là cái gì khác hơn là những trừu tượng được tách ra từ bản thân hiện thực cho nên chúng có nội dung sinh động phong phú từ đó tạo nên nội dung sâu sắc của Khoa họclogic. Tuy nhiên dưới góc độ duy tâm Hegel đã đánh giá những phạm trù cao hơn thế giới khách quan khi ông coi chúng là những tấm vải mộc còn mọi hiện tượng quá trình của thế giới chỉ là những hoa văn được trang trí trên những tấm vải này. 

    Theo Hêghen ý niệm tuyệt đối là bản chất của tự nhiên cũng như của tinh thần. Tất cả mọi sự vật chỉ là chân lý chừng nào trong chúng đều thể hiện ý niệm này. Các sự vật tự nó là nhất thời tận cùng không phải là chân lý. Chỉ có ý niệm tuyệt đối tồn tại như là hệ thống của những phạm trù là vĩnh viễn là cơ sở của mọi vật mọi hiện tượng của thế giới. Hegel cho rằng thế giới khách quan là logic học ứng dụng còn logic học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối là "hệ thống các phạm trù của tư duy trong đó sự đối lập giữa tính khách quan và chủ quan bị triệt tiêu”. Hegel nhấn mạnh rằng những phạm trù thực chất là những khái niệm mà tư duy thông thường cũng thưởng sử dụng chúng. Trong tư duy thông thường những phạm trù hoà nhập với nội dung của trực quan hay là của biểu tượng vì vậy theo Hêghen về thực chất chúng là không rõ ràng. Để làm rõ những phạm trù đó nhiệm vụ của khoa học logic là phải giải phóng chúng khỏi mọi nội dung của cảm giác kinh nghiệm. Hegel đồng nhất khoa học logic vớilogic học duy tâm.logic học này sử dụng những kết quả phát triển của những khoa học tự nhiên. Theo Hêghen những khoa học này có nhiệm vụ chuẩn bị tài liệu chologic học nhằm phát hiện những quy luật những khái niệm chung logic học duy tâm của Hegel đã coi những khoa học này dưới những hình thức khác nhau và đặt đấu ấn vào chúng. Nó chỉ ra rằng những quy luật và những khái niệm của các khoa học tự nhiên là sự thể hiện không đầy đủ của những phạm trù lý tính thuần tuý. 

    Tác phẩm chủ yếu của Hegel là Khoa họclogic được gọi là Đại logic và logic học phần đầu của Bách khoa toàn thư các khoa học triết học hay còn gọi là Tiểulogic đều nghiên cứu những phạm trùlogic như là hệ thống phát triển gắn liền và thống nhất với nhau. Chính trong Khoa học logic cũng nhưlogic học Hegel đã trình bày một cách đầy đủ và sâu sắc phép biện chứng trên cơ sở duy tâm. Theo Mác phép biện chứng của Hegel (hay như chính Hegel gọi là phương pháp tuyệt đối) là sự trừu tượng của vận động trừu tượng của phát triển của thế giới hiện thực khách quan. Phép biện chứng này được Hegel hình dung như là sự vận động dưới hình thức cực kỳ trừu tượng sự vận động của lý tính thuần tuý.

    Trong logic học Hegel đã trình bày qui luật phủ định của phủ định như là một trong những quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng. Hegel đã đồng nhất quy luật này với tam đoạn thức: chính đề - phản đề - hợp đề. Từ đó ông đã xây dựng nên hệ thống triết học cũng như từng phần trong hệ thống đó. Mỗi một phạm trù của phép biện chứng được Hegel sắp xếp được hình thức chính đề. Chính đề này trong quá trình vận động phát triển trở thành phản đề và sau đó chúng hoà nhập vào khái niệm cao nhất là hợp đề. Hợp đề không phải là quay trở lại một cách đơn giản về chính đề mà là giai đoạn phát triển cao hơn bởi yếu tố phủ định. Quy luật phủ định của phủ định vạch ra khuynh hướng của sự phát triển từ thấp cho đến cao. Theo Hegel mặt phủ định thể hiện trong mỗi một phạm trù khái niệm là cơ sở điều kiện của quá trình phát triền. Ở đây Hegel đã vạch ra mâu thuẫn là nguyên nhân làm cho phạm trù khái niệm chuyển từ giai đoạn này đến giai đoạn khác. Trong Khoa họclogic Hegel đã nhấn mạnh mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi vận động và sức sống. Chỉ vì một cái gì đó có mâu thuẫn ở trong bản thân mình mà nó được vận động có mạch đập và hoạt động.

    Khi đặt ra những cơ sở của phép biện chứng Hegel cho rằng phương pháp này xuất phát từ sự vận động phát triển của những mâu thuẫn được diễn ra trong những khái niệm. Sự vận động của mặt khẳng định đến mặt phủ định và việc xem xét sự thống nhất của chúng là bản chất của nhận thức trừu tượng nhận thức biện chứng. Nhận thức này được Hegel đối lập lại với nhận thức lý trí logic hình thức. 

    Như vậy cấu trúclogic của Hegel mang tính chất trừu tượng thuần tuý. Hegel đã xem xét hệ thống những phạm trùlogic phát triển như là sơ đồ tiên nghiệm của sự phát triển thế giới. Mặc dù với lối tư duy có tính chất tư biện trừu tượng của Hêghen nhưng những phạm trù logic học của ông suy cho cùng cũng được rút ra từ thế giới hiện thực khách quan. Cho nên trong Bút ký triết học Lênin đã chỉ ra rằng Hegel đã phỏng đoán một cách thiên tài về phép biện chứng của những sự vật hiện tượng thế giới tự nhiên trong phép biện chứng của những khái niệm. Sự khẳng định này đã được thể hiện trong sự phát triển của những khái niệm trong logic học Hêghen. Chính Mác cũng cho rằng Hegel trong sự trình bày một cách tư biện trừu tượng thường lại đưa ra được một sự trình bày hiện thực bao gồm chính các sự vật. Chính những quan điểm này tạo nên giá trị to lớn của phép biện chứng của Hêghen mà về sau chủ nghĩa duy vật biện chứng đã kế thừa và phát triển. Tuy nhiên hạn chế của chủ nghĩa duy tâm đã không cho phép Hegel thực hiện nhiệm vụ được đặt ra trong triết học của ông là cống hiến cho toàn bộ cuộc đời của sự vật. Đúng như Mác đã từng chỉ ra rằng nói chung Hegel chủ yếu quan tâm đến không phải làlogic của sự vật mà là công việc củalogic. Điều này có nghĩa là Hegel có quan tâm đến nhận thức về thế giới hiện thực và sự phản ánh của nhận thức này vào trong những phạm trù nhưng không lớn tới mức như ông đã tạo nên hiện thực từ những khái niệm và phạm trù. Trong thực tế Hegel đã xây dựng hệ thống nói chung cũng nhưlogic học nói riêng theo sơ đồ tam đoạn thức. Bằng con đường này Hegel thường bịa ra những phạm trù mà chúng không thể có ở trong hiện thực được. Vì vậy một số phạm trù trong logic học của ông có tính chất giả tạo. Điều này xuất phát từ tư tưởng của Hegel về tất cả sự phong phú của thế giới đều được nẩy sinh từ sự vận động của những khái niệm. Theo Mác đối với Hegel thì tất cả những gì đã diễn ra và đang diễn ra trong thế giới đều đồng nhất với những gì đang diễn ra trong tư duy vốn có của ông. Như vậy sự vận động và sự phát triển của những phạm trù theo Hegel là thể hiện sự phát triển của tự nhiên xã hội của tất cả những biểu hiện văn hóa của con người. Bới vì như chúng ta đã biết Hegel xuất phát không phải từ sự thống nhất mà từ sự đồng nhất của tư duy và tồn tại. ông cho rằng chúng ta không cần phải nghiên cứu một cách cụ thể mọi chi tiết của sự phát triển của tự nhiên xã hội vì sự phát triển của chúng chỉ là sự phản ánh sự phát triển của những khái niệm. Cho nên theo Hêghen phân tích những khái niệm là phương tiện nhận thức hiện thực dễ hơn là nghiên cứu một cách cụ thể chính bản thân hiện thực này. Xuất phát từ quan niệm này mà Hegel coi sự phát triển của thế giới như là sự phát triển của những khái niệm. Từ đó ông buộc phải đưa ra một số phạm trù mà chúng chưa từng có trong hiện thực đặc biệt là sự chuyển biến một cách giả tạo từ một khái niệm này nẩy sinh ra một khái niệm khác.

    Theo Hêghen nhiệm vụ củalogic học là thể hiện hệ thống những phạm trù không phải như là hệ thống có sẵn trước bất động mà như là hệ thống phát triển không ngừng. Phù hợp với điều này Hegel đã vạch ra sự phát triển của những phạm trù là đi từ trực tiếp đơn giản trừu tượng đến cụ thể phức tạp và gián tiếp nhất.

    "Khoa học logic" cũng nhưlogic học của hệ thống Hegel gồm ba phần là học thuyết về tồn tại học thuyết về bản chất và học thuyết về khái niệm. Ý nghĩa về phát triển của những phạm trù chính là ở chỗ trong logic học Hegel đã xuất phát từ tồn tại. Từ sự vận động của những phạm trù tồn tại mà xuất hiện phạm trù bản chất. ở đây bản chất như là phản đề hay là sự phủ định của tồn tại. Sau đó từ vận động của những phạm trù bản chất mà phát hiện ra khái niệm như là cơ sở sâu sắc hơn của toàn bộ quá trình phát triển của những phạm trù. Như vậy khái niệm được biểu hiện ra là hợp đề của tồn tại và bản chất hay là sự phủ định của phủ định. Có thể nhận thấy rằng sự phát triển của những phạm trù ở trong học thuyết về tồn tại bản chất khái niệm và ở trong mỗi một phần nhỏ hơn của logic học đều được thực hiện theo sơ đồ tam đoạn thức của Hegel đề ra. Theo Hêghen học thuyết về tồn tại và học thuyết về bản chất trong logic học là Logic khách quan còn học thuyết về khái niệm làlogic chủ quan. Trong logic khách quan Hegel chủ yếu nghiên cứu những phạm trù của tư tưởng mà chúng đồng thời cũng là những phạm trù của thế giới tự nhiên vô cơ. Còn trong logic chủ quan Hegel nghiên cứu sự vận động biện chứng của những phạm trù như những hình thức tư tưởng thuần tuý và sự trưởng thành của đời sống tinh thần của ý thức của khái niệm trong thế giới hữu cơ và con người. Tuy nhiên sự phân chia logic học ra thành logic khách quan vàlogic chủ quan là có tính chất tương đối. Bởi vì trên thực tế trong logic khách quan Hegel bên cạnh phân tích những phạm trù của thế giới vô cơ thì ông cũng có đề cập đến những phạm trù có quan hệ với ý thức của con người. Trái lại trong logic chủ quan đồng thời với việc trình bày những phạm trù của đời sống hữu cơ thì Hegel cũng đưa ra cả những phạm trù có mối liên quan với thế giới tự nhiên vô cơ. 

    Lần đầu tiên trong lịch sử triết học Hegel đã tạo ra được một lý luận biện chứng phát triển với tư cách logic học và là phương pháp. Ông đã kết hợp phép biện chứng và logic học thành một quan niệm thống nhất về logic biện chứng. Phép biện chứng là linh hồn của logic học nhờ đó khoa học logic trở thành một cơ thể sống chứ không phải là những phạm trù khô cứng như logic học trước đây. Công lao của Hegel so với những bậc tiền bối chính là ở chỗ ông đã đưa ra được một sự phân tích biện chứng khái quát tất cả những phạm trù quan trọng nhất của triết học và đã hình thành nên ba qui luật cơ bản của tư duy trên cơ sở duy tâm. Không nghi ngờ gì nữa có thể khẳng định rằng "Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hegel tuyệt nhiên không ngăn cản Hegel trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức hình thái vận dụng chung của phép biện chứng đó”.

    Nguồn: Tạp chí khoa học xã hội




More...

Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

By luctranvan

  • Vi Thái Lang

    Tạp chí Triết học  


    Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ: "Quan điểm về đời sống về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức". Kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho chúng ta bài học vô giá là: "Đảng phải xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của đảng". Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là cần thiết.

    Để giải quyết vấn đề nêu trên theo chúng tôi trước hết cần phải xác định rõ khái niệm thực tiễn phân biệt nó với khái niệm hoạt động sau đó là với khái niệm hoạt động lý luận. Trong các tài liệu khoa học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thực tiễn nhưng có thể nói chưa có một ý kiến thống nhất về vấn đề này. Tính đến các quan điểm khác nhau chúng tôi xin trình bày vắn tắt quan điểm của chúng tôi về khái niệm thực tiễn như sau. 

    Thứ nhất thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người. Khái niệm thực tiễn đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người.

    Thứ hai thực tiễn là hoạt động người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Đây là điểm khác biệt của thực tiễn so với hoạt động nhận thức. 

    Thứ ba thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước. 

    Thứ tư thực tiễn mang tính chất lịch sử xã hội. Đó là những đặc điểm chung của thực tiễn mà nhiều tác giả đã nhất trí.

    Vậy thực tiễn là gì? Theo chúng tôi có thể xác định thực tiễn là hoạt động của một chủ thể lịch sử cụ thể trong quá trình hoạt động ấy nó tiến hành cải tạo vật chất đối với hiện thực một cách phù họp với các mục đích của bản thân với mô hình lý tưởng và với trí thức của nó về hiện thực và nhờ mối liên hệ giữa đối tượng hóa và giải đối tượng hoá trong quá trình này mà nó tự cải tạo chính bản thân mình. Định nghĩa này có thể hơi dài song nó cho phép thâu tóm được mọi hình thức đa dạng của thực tiễn xã hội và phân biệt nó với các hoạt động không phải là hoạt động thực tiễn. Điều cơ bản trong định nghĩa này là ở chỗ khẳng định rằng bằng hoạt động của mình chủ thể chuyển cái tinh thần ý niệm thành cái vật chất và qua đó thể hiện ra là lực lượng tích cực của sự cải tạo. 

    Vậy thực tiễn và hoạt động khác nhau ở điểm nào? Phải lưu ý rằng có nhiều tác giả đã đồng nhất hai khái niệm này với nhau. Theo chúng tôi hoạt động hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tồn tại và phát triển hiện thực lịch sử. Một số tác giả đã dựa vào câu nói của C.Mác - "Đời sống xã hội về thực chất là có tính chất thực tiễn" - để đồng nhất hai khái niệm "thực tiễn" và "hoạt động". Theo chúng tôi không có cơ sở để đồng nhất hai khái niệm đó. Câu nói mang tính nguyên tắc đó của C .Mác cần phải được hiểu là: Thực tiễn là phương thức mà con người tác động qua lại với thế giới và cải tạo thế giới đó. Mác đem quan điểm đó đối lập lại với quan điểm của chủ nghĩa duy vật trực quan của Phoiơbắc. Không phải lý luận mà chính thực tiễn là cái tạo thành bản chất của các mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên ở trong lòng xã hội. Bản thân quan hệ lý luận cần được tách biệt và lý giải dưới dạng một thành tố không thể tách rời được của thực tiễn. Song không nên đồng nhất bản chất của quá trình với bản thân quá trình. Có quan điểm cho rằng bất kỳ hình thức hoạt động nào (lý luận chẳng hạn) cũng đều có liên quan đến thực tiễn xã hội phục tùng nó phát triển trên cơ sở của nó. Quan điểm khác lại coi bản thân hoạt động lý luận là thực tiễn. Thực tiễn bao giờ cũng là sự vật chất hóa các ý niệm là phương thức chuyển cái ý niệm thành cái vật chất còn hoạt động lý luận là quá trình ngược lại mặc dù nó bắt nguồn từ thực tiễn.

    Qua đó có thể kết luận rằng phạm trù "hoạt động" xét về ngoại điên là rộng hơn phạm trù "thực tiễn". Vậy thì vấn đề quan hệ giữa hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn với tư cách là hai lĩnh vực cơ bản nhất của hoạt động xã hội phải được hiểu như thế nào? 

    Đây là hai phương thức quan hệ khác nhau với thế giới. Kết quả của quan hệ lý luận là tái hiện lại đối tượng trong ý thức là mô hình lý luận của đối tượng. Còn kết quả của hoạt động thực tiễn là sự cải tạo vật chất đối với đối tượng. Thực tiễn chỉ có mặt ớ nơi có các hình thức hoạt động có đối tượng cảm tính có sự cải tạo đối tượng trên chực tế chứ không phải là trong suy nghĩ. Do vậy theo chúng tôi hoạt động lý luận khoa học giáo dục tuyên truyền không phải là thực tiễn. Bản thân khoa học chỉ có khả năng đem lại bức tranh lý tưởng về thế giới trong nhưng đặc trưng bản chất của nó. Vấn đề cũng không thay đổi cả khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp. Bởi khi đó bản thân lực lượng sản xuất tồn tại với tư cách là hình thức được đối tượng hoá của khoa học còn khoa học vân tiếp tục là hình chức hoạt động tinh thần của con người là sự phản ánh lý tưởng hiện thực.

    Vậy phải chăng thực tiễn chỉ đơn giản là sử dụng đối tượng mà không có tính chủ quan tính hướng đích? Theo chúng tôi đây là vấn đề quan trọng để phân biệt hoạt động /ý luận với thực tiễn. Đúng là thực tiễn không thể thiếu ý thức. Song luận điểm đó không chứng tỏ sự đồng nhất của hai hình thức hoạt động khác nhau là thực tiễn và lý luận. Thứ nhất cần lưu ý rằng tham gia vào thực tiễn chỉ gồm có các kết quả đã đạt được trong quá trình nhận thức trước đó. Các kết quả đó đối với hoạt động lý luận có một giá trí độc lập còn đối với hoạt động thực tiễn thì chỉ là cơ sở lý luận có giá trị như là một mô hình của tương lai. Ý thức và sản phẩm của nó ( mục đích mô hình lý tưởng) trong trường hợp này không có một giá trị độc lập nó không có nhiệm vụ cải biến đối tượng cảm tính của tự nhiên hay xã hội. Thứ hai đương nhiên là có một cơ chế (cho dù nó chưa được nghiên cứu đấy đủ) để đưa các kết quả hoạt động lý luận vào thực tiên. Chính cơ chế này đã chế định một khuynh hướng nghiên cứu mới - nghiên cứu triển khai. Đây là một lĩnh vực mới mẻ đòi hỏi chúng ta phải có những nỗ lực to lớn. Song một điều hiển nhiên là thực tiễn cải tạo xã hội do quần chúng tiến hành đòi hỏi phải hoạch định mục đích chương trình phải nhận thức các nhiệm vụ chiến lược và sách lược. Chính vì vậy mà nó không thể thiếu lý luận lý luận được tiếp biến vào các mục đích và các chương trình phục tùng nhiệm vụ cơ bản của thực tiễn cải tạo xã hội.

    Như vậy giữa lý luận và thực tiễn bao giờ cũng tồn tại một mối liên hệ không thể tách rời. Song cho dù thực tiễn có hàm lượng lý luận nhiều đến đâu đi chăng nữa thì thực tiễn và lý luận vẫn tồn tại với tư cách là hai lĩnh vực tương đối độc lập của hoạt động xã hội và bao giờ hình ảnh lý tưởng (kết quả của hoạt động lý luận) cũng đi trước hoạt động thực tiên. Nói cách khác hoạt động bao giờ cũng bao hàm hai khâu cơ bản và mối liên hệ giữa chúng luôn mang tính lịch sử - cụ thể - đó là khâu nhận thức lý luận (sản xuất ra tri thức) và khâu thực tiễn (cải tạo hiện thực ).

    Mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận theo chúng tôi còn được làm sáng tỏ hơn và cụ thể hơn khi chúng ta xét nó từ quan hệ chủ thề - khách thể. Thực tiễn là khâu trung gian cơ bản giữa chủ thể và khách thề. Chủ thể ở đây không đơn giản là con người có tư duy lý luận con người bằng xương thịt. Chủ thể được thể hiện qua tồng thể các đặc trưng xã hội của nó còn thực tiễn là phương thức cơ bản để nó tác động đến khách thể. Thực tiễn có thề nói là hình thức liên hệ thực tại khách quan nhờ đó mà chủ thể tự đối tượng hoá bản thân các ý định và mục đích của mình trong khách thề phát triển các năng lực của mình. Như vậy ngoài thực tiễn chủ thể không có một phương thức nào để chuyển từ bức tranh lý tưởng về thế giới sang việc thực hiện nó trong thế giới.

    Nếu ở phần trên chúng ta đã nói rằng thực tiễn là quá trình cải tạo vật chất hiện thực thì thông qua quan hệ chủ thể - khách thể thực tiễn thể hiện là phương thức chủ thể chuyển hoá cái ý mệnh mục đích động cơ...) thành cái vật chất (khách thể được cải tạo phù hợp với mục đích). Trọng tâm ở đây được đặt vào hai mặt của một quá trình thống nhất: Từ cái ý niệm đến cái vật chất. Nếu chúng ta nhấn mạnh tuyệt đối hoá sự cải tạo vật chất thì sự định hướng thực tiễn bởi ý thức sẽ bị biến mất và do vậy thực tiễn bị biến thành một hành vi máy móc vô thức. Còn nếu tuyệt đối hoá sự sự chuyển biến cái ý niệm thành cái vật chất thì chúng ta không thể quan niệm thực tiễn là một quá trình khách quan và như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm. 

    Từ đó suy ra rằng thực tiễn và lý luận không thể là tuyệt đối đối lập với nhau. Tính tương đối của sự đối lập ấy trước hết được quy định bởi điều là: Quan hệ lý luận của con người với thế giới không bao giờ có thề là quan hệ tuyệt đối biệt lập với thực tiễn. Hơn nữa quan hệ lý luận luôn phục tùng thực tiễn phục vụ thực tiễn và phát triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội. Nó rốt cuộc phải dựa trên cơ sở quan hệ thực tiễn với hiện thực. Đến lượt mình vốn là hoạt động của chủ thể có ý thức và ý chí thực tiễn luôn bao hàm quan hệ lý luận của chủ thể với khách thể với tư cách là vòng khâu đặt mục đích của hoạt động thực tiễn.

    Song sự đối lập tuyệt đối đó không có nghĩa là không có sự đối lập tuyệt đối giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận do thực tiên chế định và phục vụ thực tiễn song chúng có tính độc lập tương đối mang những đặc trưng riêng của hoạt động. Cả khi tạo thành một thể thống nhất trong khuôn khổ của hoạt động xã hội chúng vẫn là những mặt khác nhau của hoạt động đó. Chỉ khi được đưa vào thực tiễn ý niệm tư tưởng lý luận mới có thể "cải tạo" thế giới. Nếu dừng lại trong lĩnh vực ý thức chúng không có khả năng cải biến một cái gì ngoài khả năng ý thức. Các tư tướng tự chúng không phải là thực tiễn mô hình lý tướng về xã hội tương lai thiếu sự cải tạo vật chất chỉ là mô. hình lý luận. Theo chúng tôi cần phái nhấn mạnh tính đặc thù tính độc lập của lý luận để không rơi vào chủ nghĩa thực dụng thiển cận để phát hiện ra các quy luật phát triển của riêng lý luận tính kế thừa lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội khác nhau.

    Song cũng cần nhấn mạnh một điều khác là: Tính độc lập tương đối của lý luận là có tính chất tương đối. Thí dụ lý luận cách mạng hoàn toàn không phải là thực tiễn cách mạng. Tuy nhiên vốn được sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội lý luận cách mạng trở thành một bộ phận cấu thành tất yếu của thực tiễn xã hội. Khi tiên đoán tương lai bản thân lý luận bắt nguồn từ thực tiễn quá khứ và hiện tại. Lý luận hoàn thành một chức năng nào đó trong xã hội không phải là ở ngoài khuôn khổ của thực tiễn mà là ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội. 

    Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn theo chúng tôi cần được-vạch rõ cả trên các bình điện bản thể luận lẫn nhận thức luận. Trước hết cần phải phân biệt tính chất của mối liên hệ này với tính chất của mối liên hệ giữa ý thức và vật chất. Vật chất có thể tồn tại thiếu ý thức song thực tiễn không thể tồn tại thiếu ý thức đương nhiên là hình thức vả trình độ của ý thức có thể rất khác nhau ( cho tới tư duy lý luận). Nếu các đặc tính "thử nhất" và "thứ hai" áp dụng được vào quan hệ giữa vật chất và ý thức thì chúng lại không áp dụng được vào quan hệ giữa thực tiễn và ý thức. Theo chúng tôi ở đây chỉ có thể nói tới phương diện chủ đạo của một chủ thể thống nhất. Nói cách khác xét về phương diện bản thể luận lý luận và thực tiễn tạo thành một thể thống nhất trong hoạt động xã hội tổng hợp. Sự đối lập của chúng trong khuôn khổ của sự thống nhất này là tương đối. Mặc dù vật chất và ý thức là các mặt đối lập tương đối về mặt bản thể luận song vật chất là tiên đề là nguyên nhân phát sinh của ý thức trong khi đó thực tiễn không thể thiếu ý thức. 

    Xét về phương diện nhận thức luận nếu vật chất và ý thức là tuyệt đối đối lập thì thực tiễn và lý luận lại không tuyệt đối đối lập nhau. Mọi ý kiến khác đều có nghĩa rằng thực tiễn về nguyên tắc không thể là phương tiện đối chiếu tri thức về hiện thực và bản thân hiện thực. Trong lý luận nhận thức tri thức về đối tượng tuyệt đối độc lập với bản thân lý luận. Các nhà duy vật trước Mác đã nhìn thấy điều đó nhưng họ không biết đối chiếu tri thức với đối tượng và do vậy họ đã bất lực trước các lý lẽ của chủ nghĩa duy tâm và bất khả lý luận. Nếu tuyệt đối đối lập thực tiễn với lý luận thì chúng ta cũng sẽ vấp phải vấn đề đó. Vậy đâu là bước chuyển từ lý luận đến thực tiễn? Trong khi đó cuộc cách mạng được C.Mác thực hiện trong nhận thức luận chính là ở chỗ: ông đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức ở lĩnh vực mà ý thức tuyệt đối đối lập với vật chất Mác đã phát hiện ra khâu trung gian bước chuyển từ cái ý niệm đến cái vật chất và từ cái vật chất đến cái ý niệm. Thực tiễn xã hội hoàn thành vai trò thước đo chân lý và cơ sở của nhận thức chính là do nó không đối lập tuyệt đối mà đối lập tương đối với ý thức về mặt nhận thức luận và do nó luôn là hệ thống những hoạt động nhằm đạt tới mục đích xác định. Do vậy không nên tuyệt đối hoá cả tính chủ quan lẫn tính khách quan của thực tiễn.

    Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ thể. Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng. Nắm bắt được tính chất biện chứng của quá trình đó theo chúng tôi là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng ta luôn có được một lập trường thực tiễn sáng suốt tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận cũng như chủ nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông. 


    Nguồn: Tạp chí Triết học




More...

Việc xây dựng Đề cương và ý đồ phát triển phép biện chứng duy vật của Lênin

By luctranvan



  • Tạp chí Triết học  


    Để góp phần làm rõ những cống hiến của Lênin trong sự phát triển sáng tạo phép biện chứng duy vật trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đề cập hai vấn đề: 

    1) Về ý đồ dự định viết tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng duy vật của Lênin  

    2) Bốn Đề cương xây dựng phép biện chứng duy vật và quá trình bổ sung hoàn thiện và phát triển phép biện chứng duy vật của Lênin.

    Lênin cho rằng phép biện chứng là linh hồn của chủ nghĩa Mác là kim chỉ nam cho hành động. Người công khai bảo vệ và phát triển phép biện chứng duy vật coi đó là "thứ vũ khí sắc bén nhất lợi hại nhất" để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn. Lênin đã chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế căn bản của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêgen đưa ra những tư tưởng mới để phát triển phép biện chứng duy vật phê phán quan điểm triết học của Lépnít Latxan Hêraclít và siêu hình học của Arixtốt... Người đã xây dựng được bốn đề cương về phép biện chứng duy vật. Tuy nhiên việc khẳng định Lênin có ý đinh viết tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng không thì cho đến nay vẫn đang còn là vấn đề tranh luận. Theo chúng tôi về vấn đề này có hai quan điểm nổi bật là:

    Quan điểm thứ nhất cho rằng Lênin không có ý định viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng. Ông thu thập tài liệu nghiên cứu viết tóm tắt và xây dựng đề cương phép biện chứng nhằm đưa cái “linh hồn của chủ nghĩa Mác" vào lý luận và hoạt động thực tiễn cách mạng. Nhiệm vụ này đã được Lênin hoàn thành vào năm 1916. Từ đây phép biện chứng trở thành "kim chỉ nam cho mọi hành động". Như vậy rõ ràng là Lênin không có ý đồ viết một tác phẩm riêng về phép biện chứng ông chỉ nghiên cứu và tiếp nhận nó như là một phương pháp khoa học đối với công việc nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn của mình. 

    Quan điểm thứ hai cho rằng căn cứ vào kết quả nghiên cứu về phép biện chứng của Lênin có thể khẳng định Lênin đã có ý đồ và chuẩn bị viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng để bổ sung và hoàn thiện phép biện chứng duy vật làm cho nó thực sự là “kim chỉ nam" cho cán bộ của Đảng cho giai cấp vô sản đặc biệt là để chuẩn bị về mặt lý luận cho giai cấp vô sản Nga. Đó là một công việc mà theo Lênin có ý nghĩa quan trọng và hết sức cần thiết để giai cấp vô sản Nga tiến hành đấu tranh chống kẻ thù giành thắng lợi cho cách mạng. 

    Căn cứ vào các tài liệu thu thập các tóm tắt tác phẩm triết học đề cương được xây dựng từ hàng loạt vấn đề cơ bản mà Lênin thâu tóm trong quá trình nghiên cứu phép biện chứng chúng ta có thể xác định Lênin đã có ý định viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng nhưng dự định đó của ông không thực hiện được do nhiều lý do khách quan chủ quan khác nhau. Nhưng Lênin đã để lại cho nhân loại một công trình khoa học tầm cỡ về triết học đó là tác phẩm "Bút ký triết học" - sự kế tục xuất sắc những tư tưởng của "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán". Tác phẩm đó đã làm giàu và mà sâu sắc hơn phép biện chứng duy vật.

    Những dự định của Lênin viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng đã trình bày trong bốn đề cương về phép biện chứng . Điều đó chứng tỏ quan niệm mới về phép biện chứng của Lênin đã chín muồi. Nếu không cỏ dự định đó thì việc thu thập tóm tắt các tài liệu để viết các đề cương phép biện chứng là việc làm hoàn toàn trái với logic xét trên phương diện hoạt động lý luận - thực tiễn của Lênin. Vậy nguyên nhân nào đã làm cho Lênin không thực hiện được ý định của mình? Nhiều ý kiến cho rằng cũng như Mác Lênin không có đủ thời gian mặc dù tư liệu đã chuẩn bị khá công phu và phong phú. Tuy nhiên cần thấy rằng sự chuẩn bị về những điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi là một nguyên nhân không thể phủ nhận. Lênin cho rằng phải trình bày phép biện chứng với tư cách là những kết luận khoa học từ sự phát triển của khoa học tự nhiên công nghệ kỹ thuật và những khái quát kinh nghiệm lịch sử. Phép biện chứng phải diễn đạt sự vận động phát triển của bản thân lịch sử và sự phát triển của khoa học. Muốn vậy không chỉ căn cứ vào những kết luận triết học rút ra từ sự khái quát khoa học tự nhiên hiện đại điều mà Lênin đã làm được trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" mà còn phải đưa vào những tổng kết khái quát mới được rút ra từ sự phát triển khoa học kỹ thuật công nghiệp hiện đại. Để hoàn thành công việc lớn lao đó cần có sự tích luỹ trí thức và phải có thời gian. Về công việc đó Lênin thừa nhận rằng ông chỉ mới tiếp cận được những tài liệu mà thôi. Giữa lúc đó hàng loạt vấn đề nóng bỏng đặt ra Lênin đã chắt lọc từ phép biện chứng của Hêgen cái tạo nên cốt lõi của toàn bộ phép biện chứng. Từ kết quả trên Lênin tiếp tục nghiên cứu và phát triển hàng loạt vấn đề mới bổ sung và hoàn thiện phép biện chứng duy vật. 

    Từ vấn đề cơ bản thứ nhất Lênin phát triển và xây dựng thành 3 yếu tố đầu tiên (trong 16 yếu tố của phép biện chứng): 

    1) Tính khách quan của sự xem xét (không phải thí dụ không phải dài dòng mà bản thân sự vật tự nó). 

    2) Tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật ấy với những sự vật khác. 

    3) Sự phát triển của sự vật ấy (cũng như của hiện tượng) sự vận động của chính nó đời sống của chính nó”.

    Từ vấn đề cơ bản thứ hai Lênin đã khái quát và đưa ra 3 yếu tố tiếp theo của phép biện chứng đó là: 

    "4) Những khuynh hướng (những mặt) mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy. 

    5) Sự vật (hiện tượng…) coi là tổng số và sự thống nhất của các mặt đối lập. 

    6) Sự đấu tranh... sư triển khai của các mặt đối lập ấy của những khuynh hướng mâu thuẫn... 

    Vấn đề cơ bản thứ ba Lênin phát triển và cụ thể hoá thành yếu tố tứ 7 của phép biện chứng: "Sự kết hợp phân tích và tổng hợp sự phân tích và tổng hợp sự phân tích những bộ phận riêng biệt và tổng hòa tổng của những bộ phận ấy”.

    Sau khi đề cập đến 7 yếu tố của phép biện chứng được rút ra từ việc phê phán phép biện chứng duy tâm Hêgen Lênin cho rằng từ yếu tố thứ 5 có thể khái quát định nghĩa của phép biện chứng như sau: "Phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm". Như vậy định nghĩa phép biện chứng và 7 yếu tố đầu tiên của phép biện chứng được Lênin rút ra trực tiếp từ việc nghiên cứu tóm tắt tác phẩm "Khoa học logic" của Hêgen. Những yếu tố tiếp theo được Lênin sáng tạo nên qua nghiên cứu tóm tắt các tác phẩm của Hêgen và các tác phẩm của các nhà triết học khác. Chẳng hạn trên cơ sở yếu tố thứ 2 của phép biện chứng Lênin xây dựng nên yếu tố thứ 8 của phép biện chứng: "Những quan hệ của mỗi sự vật hiện tượng... không những là muôn vẻ mà còn là phổ biến toàn diện. Mỗi sự vật hiện tượng quá trình… đều liên hệ với mỗi sự vật khác”. Xuất phát từ yếu tố thứ 5 của phép biện chứng Lênin khái quát thành yếu tố thứ 9 của phép biện chứng: "không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối lập mà còn là những chuyển hóa của mỗi quy định chất đặc trưng mặt thuộc tính sang mỗi cái khác (sang cái độc lập của nó). Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu phép biện chứng của Hêgen Lênin khái quát và đưa ra yếu tố thứ 10 của phép biện chứng: “Quá trình vô hạn của việc tìm ra những mặt mới những quan hệ mới... ". Và yếu tố thứ 11 là: “nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn".

    Có thể nói 11 yếu tố đầu tiên của phép biện chứng được Lênin trực tiếp và gián tiếp xây dựng nên từ sự kế thừa phép biện chứng duy tâm Hêgen. Những yếu tố còn lại của phép biện chứng (12 13 14 15 l6) là kết quả nghiên cứu độc lập sáng tạo của Lênin. Những yếu tố này được Lênin sử dụng và phát triển mở rộng trong các đề cương tiếp theo của ông.

    Như vậy 16 yếu tố của phép biện chứng được Lênin đưa ra trong đề cương thứ nhất là nhằm phác thảo phép biện chứng duy vật trình bày dự định xây dựng một cấu trúc của phép biện chứng. Cấu trúc này có thể khái quát lại thành 8 phần chính như sau:

    1. Bản thân sự vật là một khách thể của nhận thức - tính khách quan khi xem xét sự vật (yếu tố 1-3).

    2. Nội dung của phép biện chứng: hạt nhân và quy luật cơ bán của nó (yếu tố 4-6 13-16).

    3. Bản chất của quá trình nhận thức - các phương pháp nghiên cứu nhận thức không bao giờ có giới hạn (yếu tố 7 10-12).

    Đề cương thứ hai của phép biện chứng duy vật được Lênin xây đựng sau khi nghiên cứu viết tóm tắt tác phẩm "Những bài giảng về lịch sử triết học" của Hêgen với tiền đề: “Đề cương phép biện chứng (logic) của Hêgen". Khác với đề cương thứ nhất ở đề cương thứ hai này Lênin trình bày các vấn đề theo một trình tự nhất định. Mở đầu đề cương Lênin trình bày khái quát sự vận động và phát triển phổ biến của khoa học và nhận thức của loài người xoay quanh một cái trục: sự thống nhất biện chứng giữa cái logicvà cái lịch sử mỗi giai đoạn lịch sử với những tri thức mà con người đạt được đặt những nấc thang nhất định trong tiến trình vận động hướng đến nhận thức chân lý khách quan. Có thể nói "Đề cương phép biện chứng (logic) của Hêgen" được thai nghén từ khi Lênin nghiên cứu "Tiểu lôgic" của Hêgen. Nó xuất hiện khi ông tóm tắt nhận xét học thuyết về tồn tại học thuyết về bản chất học thuyết về khái niệm trong tác phẩm "Tiểu lôgic" và kết thúc bằng việc nghiên cứu phép biện chứng trong tác phẩm "Tư bản" của C.Mác. Như vậy xuất phát từ việc nghiên cứu phép biện chứng duy tâm của Hêgen chỉ ra những "hạt nhân hợp lý" của nó gạn lọc bỏ đi 9/10 "cặn bã" tiếp thu và kế thừa những tính chất rồi đày công nghiên cứu phép biện chứng duy vật trong “tư bản" của Mác Lênin đã làm rõ bản chất khoa học - cách mạng của phép biện chứng duy vật. Theo Lênin đi từ "Tiểu logic" đến “Tư bản" Mác áp dụng logic phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất". 

    Như vậy đề cương thứ hai về phép biện chứng của Lênin đã trình bày những vấn đề cơ bản của phép biện chứng vạch ra sự thống nhất giữa cái logicvà cái lịch sử trong quá trình vận động phát triển của khoa học và nhận thức của loài người nói chung trong đó phản ánh xã hội tư bản nói riêng với những mâu thuẫn nội tại sự xung đột và phát triển mâu thuẫn đó tất yếu dẫn đến sự diệt vong của chế độ tư bản và ra đời một xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Những nội dung trình bày trong đề cương thứ hai có thể khái quát thành 8 vấn đề sau: 

    1. Sự thống nhất giữa cái logic và cái lịch sử - tiến trình chung của sự vận động phát triển lịch sử khoa học và nhận thức. 

    2. Hệ thống các phạm trù của phép biện chứng các trình độ các nấc thang của nhận thức vai trò của thực tiễn trong việc kiểm tra chân lý. 

    3. Phép biện chứng của bộ "Tư bản": sự thống nhất của cái logic và cái lịch sử phương pháp di từ trừu tượng đến cụ thể.

    Đề cương thứ ba được Lêin xây dựng sau khi tóm tắt tác phẩm "Triết học của Hêraclit ở Ephet" của Latxan với tiêu đề: "Tri thức - vai trò của nó đối với phép biện chứng và lý luận nhận thức". Trong đề cương này Lênin dự định giải quyết 3 vấn đề lớn: 1) vấn đề lịch sử của nhận thức lịch sử của triết học và khoa học cụ thể 2) sự phù hợp giữa lịch sử và triết học - triết học Hy Lạp sự ra đời và phát triển của nó 3) cơ sở vật chất của tư duy lịch sử ngôn ngữ tâm lý thần kinh cao cấp. Khác với hai đề cương đầu ở đề cương thứ 3 này Lênin tập trung nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử các học thuyết tư tưởng khám phá những giá trĩ của đời sống tinh thần lý giải những cơ sở vật chất quy định sự vận động biến đổi của các học thuyết nguyên nhân thay đổi các hệ tư tưởng và mối quan hệ giữa tồn tại xã hội (lịch sử) với các hệ thống lý luận (triết học)… 

    Đề cương thứ tư được Lênin xây dựng khi đọc và tóm tắt tác phẩm "Siêu hình học" của Arixtốt với tiêu đề: "Những vấn đề của phép biện chứng". Trong đề cương này ý định viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng ở Lênin được thể hiện rất rõ nét. Kế thừa và phát triển những tư tưởng biện chứng đã phác thảo ở hai đề cương trước đề cương thứ tư trình bày phép biện chứng duy vật trên 3 vấn đề:

    1. Phép biện chứng là sự phát triển của nó các mặt đối lập và mâu thuẫn - hạt nhân của phép biện chứng.

    2. phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể trong bộ “Tư bản” - những vấn đề cơ bản của phép biện chứng.

    3. Nhận thức và phát triển theo hình xoáy ốc nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm.

    Trong đề cương này Lênin hướng đến xây dựng cấu trúc phép biện chứng. Đây là một trong những phương án chuẩn bị viết tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng. Lênin đã hệ thống hoá các vấn đề cơ bản của phép biện chứng vạch rõ mối quan hệ (và chuyển hoá) giữa các yếu tố của phép biện chứng và vấn đề quan trọng nhất là đã vạch ró mâu thuẫn chính là nguồn gốc là động lực của mọi sự vận động phát triển mâu thuẫn còn tồn tại thì sự vật còn vận động mâu thuẫn chấm dứt thì sự vật kết thúc.

    Như vậy chúng ta đã khảo sát bốn đề cương xây dựng phép biện chứng duy vật của Lênin. Tuy các đề cương được viết vào những thời điểm khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và thống nhất của một tư tưởng khoa học - cách mạng. Các đề cương và phép biện chứng duy vật không những có giá trị phục vụ trực tiếp việc nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn cách mạng lúc đó mà còn thể hiện rõ những dự định của Lênin chuẩn bị viết một tác phẩm chuyên đề về phép biện chứng khi có điều kiện. Tuy nhiên với bốn đề cương dự thảo trình bày phép biện chứng Lênin đã cống hiến cho lý luận về phép biện chứng duy vật nhiều tư tưởng quý báu bổ sung hoàn thiện và phát triển nhiều luận điểm mới làm giàu thêm sâu sắc thêm gắn phép biện chứng duy vật với thực tiễn cải tạo xã hội và nâng nó lên một trình độ cao hơn. 

    Tóm lại phép biện chứng đã cuốn hút sự say sưa nghiên cứu của Lênin và kết quả nghiên cứu đã được kịp thời vận dụng và thực tiễn. Chưa bao giờ Lênin coi nhận thức của mình là hoàn thiện và cuối cùng. Ngay cả khi tình thế cách mạng diễn ra gay go quyết liệt nhất dù sức khoẻ yếu nhưng Lênin vẫn đọc tác phẩm "Khoa học logic" của Hêgen với hy vọng khám phá những cái mới tìm được bí quyết để giải quyết công việc cách mạng đang diễn ra. Lênin coi việc phát triển phép biện chứng duy vật là công việc đòi hỏi phải tập trung trí tuệ của nhiều người mácxít của Đảng cộng sản. Người nhiều lần nhắc nhở khuyên nhủ các cán bộ của Đảng phải không ngừng nghiên cứu học tập phép biện chứng duy vật (kể cả phép biện chứng của Hêgen) coi đó là nhiệm vụ của người cách mạng là chìa khoá của nhận thức.

    Ngày nay học tập Lênin nhiệm vụ của các thế hệ những người mácxít là phải tiếp tục bảo vệ bổ sung và phát triển sáng tạo toàn bộ chủ nghĩa Mác-Lênin đáp ứng nhu cầu thực tiễn đấu tranh giai cấp đấu tranh dân tộc đang diễn ra gay go quyết liệt và giải đáp trên lập trường cách mạng và khoa học những vấn đề mới của thời đại hiện nay.
     
    Nguồn: Tạp chí Triết học




More...

Thảo Luận _ Ý nghĩa của phép biện chứng Heghen

By luctranvan



  • Đỗ Minh Hợp Nguyễn Trọng Chuẩn
    Tạp chí Triết học  

    Điều này là hoàn toàn hợp quy luật vì rằng nhiều vấn đề tuổi học hiện đại đã được đặt ra ở các thời đại phát triển khác nhau xa xôi trước kia của triết học. Hơn bất cứ một khoa học nào khác triết học kể cả các khuynh hướng mới về nguyên tắc đều đòi hỏi phải dựa vào cội nguồn lịch sử kể từ khi mới hình thành và vào toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của mình. 

    Nếu xem xét một cách cẩn thận và khoa học thì chúng ta thấy rằng các phạm trù cơ bản của triết học vẫn giữ được ý nghĩa của chúng suốt nhiều thế kỷ mặc dù nội dung của chúng có thể biến đổi và trở nên phong phú hơn rất nhiều. Các tác phẩm triết học lớn đã tồn tại đã vượt qua được sự thẩm định hết sức nghiêm khắc của các thời đại và cho đến hiện nay vẫn tiếp tục tỏ rõ vai trò của chúng trong đời sống trí tuệ của nhân loại.

    Lịch sử đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng từ trước đến nay các học thuyết triết học có ảnh hưởng nhất vốn là kết quả của sự sáng tạo cá nhân của những nhà triết học kiệt xuất bằng cách này hay cách khác ở mức độ này hay mức độ khác đều được phục hồi ở các thời đại sau đó dù cho điều kiện lịch sử đã có những thay đổi rất lớn chẳng hạn đó là học thuyết Platôn. học thuyết Arixtốt học thuyết R.Đêcáctơ học thuyết I.Cantơ học thuyết G.Hêgen.v.v..

    Trong nghiên cứu triết học cần hết sức chú ý một điều là không nên đi tìm hoặc quy ảnh hưởng của một học thuyết triết học nào đó chỉ ở hoặc về một nhóm các đồ đệ trực tiếp của nó nghĩa là vào một trường phái xác định nào đó. Và điều này cũng hoàn toàn đúng với học thuyết của Hêgen. Chúng ta không cần phải mất công sức chứng minh việc triết học Hêgen đã có ảnh hưởng vượt ra khỏi khuôn khổ của thuyết Hêgen ra sao tức là khuôn khổ của một trường phái đã thừa nhận các tiền đề xuất phát của hệ thống triết học Hêgen.

    Xét một cách thật chặt chẽ thì học thuyết Hêgen hiện nay không phải là một trào lưu tư tưởng triết học đáng kể. Mặc dù vậy sự quan tâm tới triết học Hêgen đặc biệt là số lượng các công trình nghiên cứu về triết học không những không hề giảm bớt mà trái lại còn tăng lên liên tục. Hơn thế nữa có một điều khá đặc biệt là các nhà nghiên cứu về di sản triết học của Hêgen thường lại không phải là những người theo trường phái Hêgen. Một điều nổi bật khác ở đây là cả các nhà duy tâm lẫn các nhà duy vật cả những người bảo vệ chủ nghĩa duy lý lẫn những người ủng hộ chủ nghĩa phi duy lý đều tích cực nghiên cứu triết học Hêgen. Trong số các nhà triết học duy tâm lý giải triết học Hêgen và cố gắng đồng hoá các tư tưởng của ông thì thậm chí chúng ta lại bắt gặp những người cố gắng bảo vệ các khuynh hướng triết học hết sức xa lạ với học thuyết Hêgen chẳng hạn chủ nghĩa hiện sinh. chủ nghĩa nhân cách triết học phân tích thần học biện chứng.v.v.. 

    Vậy thì điều gì ở trong học thuyết Hêgen đã và đang có sức cuốn hút các nhà tư tưởng vốn theo đuổi những định hướng triết học rất khác nhau đó đến như vậy?

    So sánh cái nhìn của Hegel và Marx về thực tại

    Theo chúng tôi đặt vấn đề này ra là cần thiết để nhận thức cho đúng những nét đặc thù của các trào lưu triết học khác nhau đồng thời cũng là để đánh giá chính xác hơn ý nghĩa của triết học Hêgen đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nói chung một khi chúng ta tính đến kinh nghiệm lịch sử từ lúc xuất hiện triết học đó cho đến hôm nay. 

    Đương nhiên khi xem xét các quan điểm của những nhà triết học nổi tiếng của các thời đại trước đây tuyệt nhiên chúng ta không được tô vẽ không được hiện đại hoá các quan điểm đó của họ.

    Đồng thời chúng ta cũng không được ca ngợi không được biện hộ một chiều các quan điềm đã lỗi thời hoặc bị hạn chế bởi nhừng điều kiện lịch sử hoặc những thiên kiến đương thời. Muốn vậy phải biết phận biệt những gì là giá trị trong di sản triết học với những sự xuyên tạc hoặc lý giải tuỳ tiện về di sản đó. Một mặt khi xem xét di sản của một nhà tư tưởng thì không bỏ qua những hạn chế lịch sử những khiếm khuyết và sai lầm của nhà tư tưởng đó: những mặt khác chúng ta cần rút ra và nhấn mạnh những gì trong di sản đó đã vượt qua được thử thách ngặt nghèo của thời gian đã trở thành một khâu hữu ích trong quá trình phát triển của tư tưởng triết học.

    Làm tốt được điều trên đây đối với triết học Hêgen không phải là dễ dàng. Bởi vì triết học Hêgen không những quá đồ sộ quá bách khoa quá uyên bác về nhiều mặt mà còn chứa đựng trong mình nó không ít những mâu thuẫn những xu hướng khác nhau kể cả các xu hướng bài trừ nhau. Những cái đó một phần là nguyên cớ một phần cũng là căn cứ cho những cách lý giải hết sức khác nhau đối với học thuyết Hêgen.

    Cho dù có những ý kiến đánh giá khác nhau về triết học Hêgen song không thể phủ nhận được rằng cái có giá trị nhất và có sức sống mạnh mẽ nhất trong triết học của ông chính là phép biện chứng mà thực chất đó là học thuyết về sự phát triển toàn diện với tư cách là sự vận động tiến tới và sự chuyển hoá về chất với tư cách là sự đi lên theo thang bậc lôgíc có tuần tự về tính chất mâu thuẫn của sự phát triển bao gồm sự tương tác giữa các

    mặt đối lập sự phủ định tồn tại hiện có và đồng thời là sự giữ lại cái tích cực từ quá khứ.

    Hệ vấn đề phép biện chứng hiện nay trở nên đặc biệt cấp bách là do tính chất biện chứng trong sự phát triển của xã hội và của sự nhận thức khoa học hiện đại ngày càng bộc lộ rõ nét hơn. Những chuyển biến mang tính lịch sử toàn cầu và vô cùng đa dạng đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trong đời sống xã hội trên khắp hành tinh chúng ta hiện nay. Bên cạnh đó trong sự phát triển của mình khoa học tự nhiên hiện đại cũng đang vấp phải không ít các vấn đề biện chứng của chính sự phát triển. Giờ đây sự tiến hoá của giới tự nhiên đang được nghiên cứu ở mọi cấp độ cấu trúc. Quan điểm biện chứng về sự phát triển đã xâm nhập vào nhận thức khoa học tự nhiên cả ở mức độ vĩ mô lẫn mức độ vi mô. Nguyên tắc phát triển thực sự đã trở thành nguyên tắc phổ biến trong nghiên cứu khoa học.

    Sự tiến bộ và những thành công tuyệt vời của sinh học mấy năm gần đây đánh dấu bước ngoặt mới của sự xâm nhập ngày càng sâu hơn vào các bí mật trong cấu trúc và trong sự phát triển của thế giới vật chất sống. Điều nổi bật nhất về mặt này chính là ở chỗ sinh học phân tử ngày càng quay trở lại mạnh hơn với tư tưởng về sự phát triển và sự tự phát triển.

    Bí mật của sự tự phát triển của các cơ thể sống đang dần dần được mở ra qua những thành công của kỹ thuật di truyền của công nghệ sinh học. Cơ sở phân tử và dưới phân tử của sự phát triển cá thể và của sự tiến hoá nói chung vì vậy đang thù hút mạnh mẽ trí tuệ của nhiều nhà sinh học và nhiều phòng thí nghiệm lớn của thế giới. Hơn bao giờ hết.

    Nguyên tắc phát triển đang trở thành nguyên tắc cơ bản của toàn bộ nhận thức sinh học hiệp đại. Vai trò to lớn của của tư tưởng phát triển đối với sự tiến bộ của khoa sinh thái học và của thực tiễn sinh thái ngày càng rõ nét hơn và hiển nhiên hơn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã làm bộc lộ những mâu thuẫn của sự tiến bộ mà trong quá khứ thường được xem như là sự làm chủ của con người đối với các lực lượng tự phát của tự nhiên như là sự thống trị của con người đối với giới tự nhiên. Tiếc rằng trên thực tế sự làm chủ đó sự thống trị đó không chỉ đem lại toàn những cái hay những điều tốt mà còn gây nên cả những tổn thất không nhỏ cho chính con người lẫn cho giới tự nhiên một khi con người không kiểm soát được nó. Đồng thời: việc áp dụng hợp lý các thành tựu khoa học và công nghệ mới nhằm góp phần bảo vệ giới tự nhiên phát triển bản thân con người thúc đấy sự phát triển xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo chỉ có thể thực hiện được một khi đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng. Chính sự biến đổi sự cải tạo môi trường tự nhiên và xã hội một cách hợp lý và trên cơ sở nhân đạo là chiếc chìa khoá để giải quyết các vấn đề bức bách đang được đặt ra trước nhân loại.

    Rõ ràng là việc vai trò của phép biện chứng tawng lên một cách đặc biệt không phụ thuộc vào bản thân triết học Hêgen. Tuy nhiên chính học thuyết của Hêgen là thứ triết học đã biến phép biện chứng thành trung tâm thành hạt nhân đích thực của toàn bộ hệ vấn đề triết học. Phép biện chứng được Hêgen lý giải là phương pháp đúng đắn để nhận thức các vấn đề triết học. Phương pháp tư duy biện chứng được ống nghiên cứu một cách đầy đủ nhất và có căn cứ vững chắc là phương pháp chưa từng thấy trong lịch sử triết học trước Mác. Trong triết học Hêgen phép biện chứng biểu hiện ra là lý luận nhận thức và là hình thức cao nhất của lôgíc học của tư duy lôgíc. Đồng thời nó cũng chế định một thế giới quan đặc biệt cần đặt trên niềm tin vào tính tất yếu của sự tiến bộ với tư cách là kết quả của sự phát triển hợp quy luật.

    Do tính hạn chế của các điều kiện lịch sử và thiên hướng động hoà với trật tự xã hội phổ hiện tồn thời đó mà Hêgen đã có những kết luận mâu thuẫn và không nhất quán. Trái với các nguyên tắc xuất phát của mình. Hêgen đã đặt ra một giới hạn cho sự phát triển của nhân loại kể cả cho sự phát triển của triết học sau khi tuyên bố rằng học thuyết của mình là sự kết thúc tuyệt đối hoàn thiện của tư tưởng triết học. 

    Nhưng ngay cả những điều ấy cũng không làm mất đi ý nghĩa tiến bộ của các nguyên tắc biện chứng xuất phát của Hêgen. Phù hợp với chúng Hêgen quan niệm lịch sử toàn cầu là sự tiến bộ trong nhận thức về tự do. Cho dù bản chất của tự do có được hiểu khác nhau xong việc thừa nhận nó vẫn trở thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo và về sự công bằng xã hội. Đó chính là lý do tại sao sự quan tâm của nhiều nhà triết học hiện đại đến học thuyết Hêgen trở thành sự quan tâm có cơ sở sâu sắc và mang ý nghĩa thiết thực. 

    Nhân đây cần phải nhắc đến sự đánh giá của C. Mác đối với phép biện chứng của Hêgen vì chính C. Mác không những đã chỉ phê phán một cách sâu sắc phép biện chứng của Hêgen mà còn cải tạo phép biện chứng đó xây dựng nên phép biện chứng duy vật duy nhất và thực sự khoa học với mẫu mực tuyệt vời của nó là tác phẩm chủ yếu của ông - bộ "Tư bản". C.Mác viết: "Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêgen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêgen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy ở Hêgen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần 

    Triết học duy vật biện chứng chính là giải pháp cho nhiệm vụ nghiên cứu đã được C. Mác đặt ra đó C. Mác và Ph.Ăngghen không gán ghép hay hợp nhất một cách đơn giản phép biện chứng của Hêghen với chủ nghĩa duy vật trước đó. trước hết là chủ nghĩa duy vật của L. Phoiơbắc. Trên thực tế các ông đã phải tiến hành một công việc hết sức phức tạp và đồ sộ là chỉnh lý cải tạo một cách duy vật đối với phép biện chứng duy tâm của Hêgen: chỉnh lý và cải tạo một cách biện chứng đối với chủ nghĩa duy vật máy móc và siêu hình.

    Trong triết học Mác phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật không phải là các bộ phận cấu thành riêng biệt tách rời nhau mà chúng chuyến hoá lẫn nhau xâm nhập vào nhau và tạo thành một chỉnh thế hữu cơ. Chủ nghĩa duy vật trong hệ thống triết họe mácxít không những là lý luận mà còn là phương pháp nghiên cứu duy vật. Đồng thời phép biện chứng mác xít không chỉ là phương pháp mà còn là lý luận hơn thế nữa là lý luận hoàn thiện nhất đầy đủ nhất toàn diện nhất và không phiến diện nhất về sự phát triển.

    Cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không bao giờ coi công việc của mình nhằm chỉnh lý và cải tạo một cách duy vật đối với phép biện chứng của Hêgen đã là hoàn tất. Trái lại cho đến tận cuối đời các ông vẫn không ngừng nhắc nhở rằng cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu và những khái quát mới về phép biện chứng Hêgen. Điều mà tiếc thay các ông chưa kịp thực hiện.

    Noi theo tấm gương của C. Mác và Ph. Ăngghen. V. I . Lênin cũng kiên trì nhấn mạnh về sự cần thiết phải tiếp tục công việc chỉnh lý một cách duy vật đối với phép biện chứng Hêgen. Trong bài viết "Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu" - tác phẩm được coi một cách xác đáng là di chúc triết học của Lênin - ông kêu gọi thành lập "Hội những người bạn duy vật của phép biện chứng Hêgen" để tiến hành công tác nghiên cứu giải thích và tuyên truyền phép biện chứng của Hêgen: "Dựa vào cách của Mác đã vận dụng phép biện chứng của Hêgen hiểu theo quan điểm duy vật chúng ta có thể và cần phải nghiên cứu phép biện chứng đó trên tát cả các mặt". 

    Những chỉ dẫn rất: quan trọng và quý báu đó cũng đồng thời là những kết luận được chính Lênin rút ra từ các nghiên cứu riêng của ông về triết học Hêgen và trước hết là về phép biện chứng Hêgen. Ngay từ giữa những năm 90 thế ký XIX Lênin đã vạch ra một cách sâu sắc ý nghĩa xã hội của phép biện chứng Hêgen của mặt cách mạng của nó mà thậm chí phái Hêgen mới đã bỏ qua trong bài viết nhan đề "Phriđrích Ăngghen" Lênin viết: "Lòng tin của Hêgen vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người và nguyên lý cơ bản của triết học Hêgen cho rằng trong thế giới luôn diễn ra một quá trình liên tiếp biến hoá và phát triển đã dẫn những học trò của nhà triết học ở Béclanh không muốn điều hoà với hiện trạng đến ý nghĩ cho rằng ngay cả cuộc đấu tranh chống hiện trạng cuộc đấu tranh chống bất công đang tồn tại và chống điều ác đang hoành hành cũng bắt rễ từ quy luật phổ biến là sự phát triển không ngừng. Nếu mọi cái đều phát triển nếu những thể chế này bị thể chế khác thay thế vậy thì tại sao chế độ chuyên chế của vua phổ hay của Nga hoàng việc một thiểu số rất nhỏ làm giàu trên lưng tuyệt đại đa số sự thống trị của giải cấp tư sản đối với nhân dân lại cứ tồn tại mãi?"Như vậy tiềm năng cách mạng

    trong phép biện chứng của Hêgen đã được Lênin vạch ra; tiềm năng đó biểu hiện nội dung cơ bản của nó: tính có quy luật nội tại của sự phát triển sự đấu tranh giữa các mặt đối lập sự phủ định biện chứng với tư cách một bậc thang tất yếu của sự phát triển. 

    Như mọi người đền biết trong những năm chiến tranh thế giới lần thứ nhất cho dù phải bận tâm với cuộc đấu tranh chính trị trực tiếp với việc phải phân tích quá trình diễn tiến và sự chín muồi của cách mạng Nga. Lênin vẫn tìm được thời gian để nghiên cứu một cách có hệ thống triết học Hêgen đặc biệt là "Khoa học lôgíc" và "Những bài giảng về lịch sử triết học" của Hêgen. Các bản tóm tắt sâu sắc và cô đọng về những tác phẩm thiên tài này tạo thành bộ phán đáng kể và hơn nữa là bộ phận quan trọng nhất trong "Bút ký triết học" nổi tiếng của V.I. Lênin. trong đó không những ông đã vạch rõ sự phong phú tuyệt vời của các tác phẩm cơ bản của Hêgen mà còn đưa ra các kết luận triết học mới góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa duy vật biện chứng. "Bút ký triết học" của V.I. Lênin chứng tỏ đầy sức thuyết phục rằng công việc chỉnh lý một cách duy vật đối với phép biện chứng Hêgen còn lâu mới hoàn tất rằng trong lĩnh vực này sẽ có những nghiên cứu khám phá và thành tựu mới. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi không thể xem xét một cách thật sự có hệ thống và thật đầy đủ sự phân tích của Lênin về "Khoa học lôgíc". Do vậy chúng tôi chỉ đề cập đến sự đánh giá chung và khái quát của Lênin đối với học thuyết lôgíc của Hêgen. Thực chất của sự đánh giá này là: dưới hình thức lộn ngược học thuyết Hêgen phản ánh bức tranh khách quan về thế giới. Phân tích quan niệm của Hêgen về “ý niệm mà rốt cuộc hoá ra là giới tự nhiên. Lênin viết: "Hêgen đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiện tượng của thế giới của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm".

    Nói cách khác các quy luật phổ biến của sự phát triển của giới tự nhiên của xã hội loài người và của sự nhận thức không thể được mô hình hoá chỉ phù hợp với các quy luật của một mình sự nhận thức của một mình tư duy như hệ thống Hêgen giả định. Không thể rút ra các quy luật của tồn tại từ tư duy. Từ một thực tế là các quy luật của tồn tại được phản ánh trong tư duy. Hêgen đã rút ra một kết luận sai lầm rằng tồn tại thực chất là tư duy. Quan hệ hiện thực đã bị Hêgen thần bí hoá bị đặt lộn ngược chân lên đầu. Nhưng dù sao Hêgen cũng đã luận chứng theo kiếu duy tâm luận điểm cho rằng các hình thức của tư duy là sự phản ánh các mối quan hệ vốn có trong tự nhiên và trong xã hội không phụ thuộc vào tư duy. Quay trở lại vấn đề này ở một chỗ khác. Lêmn viết: "Hêgen đã chứng minh rằng những hình thức lôgíc và những quy luật lôgíc không phải là một cái vỏ trống rỗng: mà là phản ánh của thế giới khách quan. Nói đúng hơn không phải ông đã chứng minh như vậy mà đã đoán thấy một cách tài tình như vậy"

    Khi phân tích "Khoa học lôgíc" của Hêgen. Lênin thường xuyên đối chiếu nó với "Tư bản" của Mác vì phương pháp luận của "Tư bản" là kết quả của một việc làm đồ sộ là chỉnh lý theo cách duy vật đối với phép biện chứng duy tâm của Hêgen. Trong tác phẩm cơ bản này của mình Mác đã nghiên cứu. thứ nhất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; thứ hai sự phát triển của nhận thức về kinh tế tư bản chủ nghĩa (lịch sử của kinh tế học chính trị) và thứ ba sự phát triển của các phạm trù kinh tế học mà thông qua đó việc nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi tư bản chủ nghĩa được thực hiện.

    Vạch ra sự thống nhất của bả mặt cơ bản nay (bản thể luận nhận thức luận và lôgíc học) trong việc nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Lênin đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng: "Mác không để lại cho chúng ta "lôgíc học" (với chữ L. viết hoa) nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của "Tư bản" và cần phải tận dụng đầy đủ nhất lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong "Tư bản". Mác áp dụng lôgíc phép biện chứng và lý luận nhận thức . . . của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất: mà chủ nghĩa duy vật thì đã lấy ở Hêgen tất cả cái gì có giá trị và phát triển thêm lên" Nhờ trí tuệ uyên bác của Mác mà phép biện chứng duy vật đã được tạo ra và với tất cả sự đối lập với phương pháp Hêgen nó vẫn thừa nhận và nhấn mạnh sự giống nhau của mình với phương pháp đó Như trên đã nói cho đến nay sự quan tâm đối với di sản triết học của Hêgen vẫn không ngừng tăng lên. Phải coi đây là hiện tượng tích cực vì về thực chất sự quan tâm ngày một tăng lên này là sự quan tâm không những đối với thứ triết học đã tổng kết về mặt lý luận lịch sử biện chứng đã có từ trước đó mà còn là sự quan tâm đối với toàn bộ lịch sử nhận thức nói chung. Sẽ thật là ngây thơ nếu như không nhận thấy rằng tuỳ thuộc vào định hướng khoa học và ý thức hệ mà các nhà triết học sẽ có các cách tiếp cận khác nhau đối với việc nghiên cứu và đánh giá phép biện chứng của Hêgen. Một số nhà triết học cố gắng nghiên cứu các tư tưởng biện chứng thiên tài của Hêgen trên cơ sở các dữ liệu của khoa học hiện đại và kinh nghiệm lịch sử mới của thời đại. Ngược lại có một số nhà triết học khác lại tiến hành nghiên cứu phép biện chứng Hêgen cất chỉ để bác bỏ nó chỉ để thuyết phục người khác tin rằng về nguyên tắc phép biện chứng không áp dụng được vào thế giới khách quan mà chỉ có quan hệ với tư duy Như vậy không thể không nhận thấy rằng trong số những người nghiên cứu phép biện chứng Hêgen thì một số là các nhà biện chứng còn số khác là kẻ thù của phép biện chứng.

    Là những người ủng hộ sự phát triển sáng tạo phép biện chứng chúng ta đánh giá cao công lao vĩ đại của Hêgen cho phép biện chứng và coi việc tiếp tục tổng kết khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học và cửa thực tiễn hiện đại đế làm giàu thêm phép biện chứng duy vật của C. Mác là nhiệm vụ quan trọng và không bao giờ kết thúc. 


    (1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. t. 23. Nxb Chình trị Quốc gia. Hà Nội. 1993. tr. 35. 
    (2) V.I.Lênin.Toàn tập. t.45.Nxb Tiến bộ. Mátxcơva. 1983. tr. 36 
    (3) V.I.Lênin sđd.t.2. tr. 5-6.
    (4) V.I.Lênin.. Sđd.. t. 29. tr. 209.
    (5) V.I. Lênin. Sđd.. tr. 191.
    (6) V.I. Lênin. Sdd.. tr. 359 - 360.

  •   Nguồn:Tạp chí Triết học




More...

Thảo luận - Phép biện chứng duy vật với việc khắc phục những sai lầm trong tư duy ở ta

By luctranvan

 2009-01-03
12:03:57
 
  •  Đinh Cảnh Nhạc
    Tạp chí Triết học


    Với bản chất khoa học cách mạng và phê phán phép biện chứng duy vật như Mác và Engen đã khẳng định: "không chịu khuất phục trước một cái gì cả”. Trên một ý nghĩa nào đó phép biện chứng duy vật không chỉ đối lập với phép biện chứng duy tâm mà nó còn là phương tiện chủ yếu để khắc phục ngăn ngừa các khuynh hướng tư duy dẫn đến nhận thức sai lầm các quy luật khách quan chi phối sự biến đổi của đời sống xã hội. 

    Những khuynh hướng sai lầm này biểu hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động thực tiễn của con người và làm cản trở thậm chí triệt tiêu sự phát triển do đó chúng được coi là những căn bệnh. Với ý nghĩa đặc biệt như vậy của phép biện chứng duy vật việc đề cao vai trò của nó đối với việc khắc phục những sai lầm trong tư duy càng trở nên có ý nghĩa hết sức to lớn.

    Dưới đây chúng tôi trình bày một số sai lầm tiêu biểu trong tư duy và trong nhận thức cần được khắc phục và con đường khắc phục chúng.

    Về bệnh chủ quan duy ý chí 

    “Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm kép trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủ nghĩa chủ quan lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện khuynh hướng tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể trong quan niệm và hành động phủ nhận hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật của thế giới vật chất của hiện thực khách quan".

    Thực chất của căn bệnh này là trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn người ta tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan xa rời hiện thực khách quan coi thường các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển. 

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí. Nếu vận dụng nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để xem xét thì rõ ràng bệnh chủ quan duy ý chí là kết quả nếu không nói là tất cả của những điều kiện sinh hoạt vật chất - xã hội cụ thể là của trình độ phát triển thấp kém về kinh tế. Đó chính là nguyên nhân của những nguyên nhân sau đây: 

    Bệnh chủ quan duy ý chí là sự thể hiện về trình độ văn hoá khoa học của chủ thể nhận thức có thể khẳng định rằng ở một mức độ nào đó người ta không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá khoa học chưa đạt đến một chuẩn mực cần có. Vì vậy sự yếu kém về trình độ văn hoá khoa học sẽ tất yếu dẫn đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí.

    Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường xuyên chủ động nâng cạo năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm cả quá trình học tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). Về điểm này Engen đã từng khẳng định: "Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta. Năng lực ấy cần phái được phát triển hoàn thiện... Vì vậy để khắc phục tình trạng yếu kém đó cách trước tiên và chủ yếu là phải học tập rèn luyện lý luận. của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 

    Tựu trung bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng. Do đó Lênin đã gọi căn bệnh này "là sự mù quáng chủ quan" là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. Về lý luận bệnh chủ quan duy ý chí có nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm mống cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức. Song là một loại bệnh "ấu trĩ tả khuynh" nên nó vẫn có khả năng được ngăn ngừa và loại bỏ. 

    Thực tiễn cho thấy quá trình hoạch định đường lối chiến lược sách lược cách mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương chính sách và pháp luật nếu bị sự can thiệp áp đặt của ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước mà trước mắt cũng như lâu dài hậu quả của nó khó có thể lường trước được. Về vấn đề này V.I.Lênin đã cảnh báo: "Đối với một chính Đảng vô sản không sai lầm nào nguy là nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. Định ra một sách lược vô sản nói trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại". 

    Có thể sau khi chủ trương đường lối bị thất bại do bệnh chủ quan gây nên những người hoạch định chúng sớm nhận ra sai lầm do đó chúng có thể được khắc phục sửa chữa cho phù hợp với quy luật khách quan và yêu cầu của thực tiễn. Nhưng cũng có thể xảy ra các tình trạng sau đây: 1) không nhận thức được nguồn gốc sai lầm về mặt tư duy nhận thức 2) nhận thức được nguồn gốc sai lầm đó nhưng chậm được sửa chữa khắc phục. 

    Trong trường hợp thứ hai ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục sửa chữa sai lầm theo chúng tôi còn có nguyên nhân chủ quan khác. Đó là do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm sai lầm chủ quan tìm cách thuyết minh cho "sự sáng tạo hợp quy luật" hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác hoặc cho nguyên nhân khách quan... Trong tình hình đó thay cho việc tìm cách khắc phục sai lầm thì có thể là thái độ thời ơ chờ đợi sự may rủi... và do đó sai lầm càng trở nên nghiêm trọng.

    Như vậy nguyên nhân lẫn trong hậu quả. Bệnh chủ quan duy ý chí còn dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính hình thức chủ nghĩa bệnh gia trưởng độc đoán chuyên quyền ban phát đặc ân tệ sùng bái cá nhân tham ô lãng phí coi thường người lao động...

    Ở Việt Nam trong thời kỳ xây dựng CHXH trước đây chúng ta cũng đã mắc phải căn bệnh này. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo phát triển kinh tế và do đó dẫn đến việc đề ra những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triền sản xuất. Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới chúng ta đã không có được một đường lối chính sách phát triển kinh tế thận trọng và khoa học dẫn đường. Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật. 

    Là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức trình độ lý luận mà còn là sản phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài đến lượt nó bệnh chủ quan duy ý chí trở thành một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị đình đốn sa sút. Do vậy quá trình khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ nhận thức trình độ lý luận trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật với việc đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế. 

    Chừng nào căn bệnh này chưa được khắc phục triệt để thì nó sẽ còn gắn kết chặt chẽ với bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển đất nước.


    Về bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa 

    Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa được đề cập ở đây là muốn nói đến những sai lầm trong phương pháp tư duy cũng như trong cải tạo thực tiễn. Thực chất của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm coi kinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao kinh nghiệm cảm tính coi thường tri thức lý luận tri thức khoa học vận dụng kinh nghiệm để giải mã những vấn đề thực tiễn một cách máy móc dẫn đến tình trạng áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Vậy họ lấy những kinh nghiệm đó ở đâu? Về đại thể đó là sự từng trải của bản thân kinh nghiệm của người khác kinh nghiệm của địa phương này hay địa phương nọ kinh nghiệm của nước này hay nước khác kinh nghiệm của các thế hệ trước… Tuy nhiên trong số nguồn kinh nghiệm đó thì xu hướng chủ yếu là tuyệt đối hoá kinh nghiệm bản thân. Những người mắc bệnh kinh nghiệm không hiểu được rằng: 

    Thứ nhất những kinh nghiệm của bản thân họ chỉ mang tính chất cục bộ chứ không phải là cái phổ biến và càng không phải là tri thức kinh nghiệm phổ biến theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. 

    Thứ hai những kinh nghiệm này họ vay mượn của người khác hoặc của quá khứ chưa hẳn đã là những kinh nghiệm được bảo tồn và phát triển theo "quan điểm chọn lọc". Hơn nữa những tri thức kinh nghiệm mới chỉ là sự khái quát từ một thực tiễn một hoàn cảnh cục bộ riêng biệt và trong nhiều trường hợp chúng chỉ mới phản ánh được cái bề ngoài ngẫu nhiên nhưng trong thực tế cụ thể sự việc đã diễn ra một cách khác mà chúng ta đã không thể (và bất cứ ai cũng không có thể) dự đoán được nó đã diễn ra một cách độc đáo hơn và phức tạp hơn nhiều.

    Thứ ba "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu.

    Con người Việt Nam vốn mang đậm nét "tư duy kinh nghiệm". Vì vậy mặc dù đã được trang bị chủ nghĩa Mác -Lênin đặc biệt là phép biện chứng duy vật nhưng ở một số nhà quản lý của chúng ta ít nhiều vẫn mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Với căn bệnh này trong hoạt động thực tiễn họ đã rơi vào tình trạng mò mẫm sự vụ tuỳ tiện tự ti không nhất quán trong việc thi hành các chủ trương chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và bản thân họ cũng trở nên bảo thủ lạc hậu và trì trệ bởi phương pháp hành động cũ kỹ. Hậu quả đó sẽ trở lên nghiêm trọng hơn khi bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan duy ý chí.

    Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải nắm vững phép biện chứng duy vật phải thấy được mối quan hệ qua lại và sự thống nhất biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận. Phải bám sát thực tiễn khái quát thực tiễn khái quát lý luận xây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn phù hợp với từng thời kỳ lịch sử. Vê bệnh giáo điều Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong quá trình tư duy của chủ thể ( tính máy móc rập khuôn cứng nhắc thiếu sáng tạo) mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn. Thực chất của bệnh giáo điều là sự tuyệt đối hoá tri thức lý luận tri thức khoa học coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc những tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không tính đến tính lịch sử - cụ thể của những hoạt động đó. 

    Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận nhất là lý luận của CNDV biện chứng do đó dẫn đến hạn chế khả năng áp dụng tri thức một cách linh hoạt sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội.

    Trong thực tiễn đôi khi bệnh giáo điều biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một cách đơn giản lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng cái đặc thù hoặc áp. dụng một lý thuyết một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn. Sai lấm đó chính là ở chỗ như Lênin nói: "Nêu chỉ biết bắt chước không có tinh thần phê phán mà đem rập khuôn kinh nghiệm đó một cách mù quáng vào những điều kiện khác như thế là sai lầm nghiêm trọng". 

    Ở nước ta ngay sau khi tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng là phạm chủ nghĩa giáo điều”. Lời căn dặn đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị trong việc học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế và quản lý kinh tế của các nước phát triển trên thế giới.

    Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam. Rất tiếc khi phát hiện ra sai lầm chúng ta đã chậm khắc phục sửa chữa nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước . Để căn bản khắc phục căn bệnh này theo tinh thần của phép biện chứng duy vật chúng ta phải triệt để phân tích mọi vấn đề trong tính lịch sử - cụ thể của nó. Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp tránh rập khuôn máy móc tránh tuyệt đối hoá các tri thức đã có. 

    Những căn bệnh trên đây thường gắn bó chặt chẽ với nhau. Chúng là một trong những nguyên nhân đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế xã hội những năm 80. Với tinh thần cách mạng khoa học Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trong đó đổi mới tư duy lý luận được xem là cơ sở. Từ đó đến nay chúng ta đã có những bước tiên quan trọng trong việc khắc phục các khuynh hướng tư duy sai lẩm vận dụng một cách khoa học tư duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

    Tuy nhiên vốn là những bệnh đã tồn tại khá lâu dài và những cơ sở nảy sinh ra chúng chưa hoàn toàn mất đi nên chúng chưa hoàn toàn bị loại trừ. Ở mức độ nào đó những căn bệnh này vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đổi mới của chúng ta.

    Việc ngăn ngừa khắc phục các căn bệnh nói trên về thực chất phải là quá trình xoá bỏ những nguồn gốc đã sinh ra chúng. Điều đó có nghĩa là phải xoá bỏ tình trạng yếu kém về tư duy lý luận phát triển tư duy lý luận lên trình độ cao. Muốn vậy trước hết phải nắm vững phương pháp luận biện chứng duy vật và thông qua đó không ngừng nâng cao trình độ lý luận năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn.

    Như vậy nắm vững phép biện chứng duy vật sẽ giúp cho chủ thể vừa ngăn ngừa khắc phục những khuynh hướng tư duy sai lầm vừa nâng cao năng lực tư duy tạo khả năng giải quyết đúng đắn những vấn đề do thực tiên đặt ra.


                                                                  Nguồn: Tạp chí Triết học




More...