Câu 02: Trình bày nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng ? Rút ra ý nghĩa từ nguyên lý này ?

By luctranvan

 
Nội dung nguyên lý
  Trong triết học mối quan hệ có nghĩa là sự quan hệ tác động qua lại lẫn nhau phụ thuộc và chuyển hoá cho nhau giữa các sự vật và hiện tượng
 Trong thế giới khách quan có vô số sự vật và hiện tượng chúng có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau làm điều kiện và tiền đề cho nhau phụ thuộc lẫn nhau chuyển hoá lẫn nhau. Không một sự vật nào tồn tại trong cô lập tách rời (mối liên hệ) với sự vật hiện tượng khác. Mối liên hệ đó là khách quan và phổ biến (cả trong thiên nhiên xã hội và tư duy)
 Ví dụ: Trong tự nhiên tồn tại mối liên hệ giữa động vật và thực vật giữa thực vật và khí hậu…
 Mối liên hệ đó diễn ra không chỉ giữa các sự vật hiện tượng với nhau và nội tại bên trong bản thân sự vật (các mặt bộ phận yếu tố của nó) cũng đều diễn ra các mối liên hệ tác động qua lại
 Ví dụ: Như trong cơ thể người sự liên kết của các phân tử trong một chất.
 Ý nghĩa: “Quan điểm toàn diện và đồng bộ”
  Nguyên lý này xây dựng cho ta quan điểm toàn diện nghĩa là khi xem xét sự vật hiện tượng chúng ta không được bỏ xót bất kỳ chi tiết nào các mắc khâu trung gian gián tiếp và phải đặt nó trong thời điểm bối cảnh lịch sử cụ thể. Có như thế mới hiểu được sự sự vật hiện tượng
 Ví dụ:Khi xem xét đánh giá một con người ta cần phải xem xét rõ mặt ưu điểm và khuyết điểm có như vậy mới có thể đánh giá đúng bản chất của con người đó.
 Khi đánh giá mức độ phạm tội của tội phạm ta cần biết tội phạm thực hiện hành vi phạm tội đó trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể nào …
 Khi xem xét sự vật hiện tượng chúng ta cần chú ý vị trí vai trò của từng loại mối liên hệ (Có mối liên hệ bên trong bên ngoài; mối liên hệ cơ bạn không cơ bản; mối liên hệ chủ yếu thứ yếu; mối liên hệ bản chất; mối liên hệ ngẫu nhiên tất nhiên; mối liên hệ không gian và thời gian …)
 Trong các mối liên hệ đó thì mối liên hệ nào bên trong bản chất tất nhiên cơ bản chủ yếu … giữ vai trò quan trọng quyết định sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng

 Ví dụ: Trong cuộc kháng chiến của dân tộc những người lính đã có lựa chọn và quyết định đúng đắn giữa mối quan hệ gia đình với đất nước giữa tình riêng và nghĩa lớn …
 Cần phê phán quan điểm tư duy siêu hình xem xét sự vật hiện tượng một cách lỉnh tại chết cứng bất biến máy móc … (người mắc bệnh siêu hình chỉ nhìn thấy bộ phận mà không thấy cái toàn bộ thấy cây mà không thấy rừng). Sai lầm của tư duy siêu hình có thể dẫn đến lối xem xét caò bằng bình quân giàn trãi đều đều như nhau giữa các mối quan hệ:
 Ví dụ: Đánh giá năng lực cán bộ trong cùng cơ quan ….


More...

Câu 09: Phân tích vai trò của quần chúng trong lịch sử ? Liên hệ vấn đề trên đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay?

By luctranvan

Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật (CNDV) lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử
  Khái niệm quần chúng nhân dân là có sự thay đổi và phát triển. Có tính lịch sử bởi vì nó gắn liền với hình thái KT-XH và điều kiện lịch sử nhất định nhưng dù thay đổi và phát triển như thế nào quần chúng nhân dân được xác định bởi:
  QCND trước hết là những là những nười lao động vì đây là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội
  QCND là những bộ phận dân cư có khuynh hướng luôn chống lại những giai cấp thống trị bị áp bức bóc lột
  QCND còn bao gồm các gia cấp và các tầng lớp xã hội có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển xã hội
  Vậy QCND còn là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
  Xuất phát từ nguyên lý cơ bản chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng: hoạt động sản xuất của cải vật chất của quần chúng nhân dân trước tiên là nhân dân lao động là cơ sở cho sự tồn tại phát triển của xã hội
  Cùng với sự phát triển của sản xuất quần chúng lao động đã tích luỹ kinh nghiệm . cải tiến công cụ sản xuất thúc đẩy làm cho xã hội không ngừng tiến lên
  Quần chúng nhân dân với tư cách là lực lượng sản xuất cơ bản nhân dân lao động quyết định sự biến đổi của lịch sử bởi vì xét đến cùng lực lượng sản xuất qui định sự xuất hiện bảo đảm tồn tại của một chế độ xã hội
  Như vây lịch sử XH loài người trước hết là lịch sử phát triển XH. Lịch sử của sự thay đổi các phương thức sản xuất lịch sử của những người sản xuất của quần chúng lao động hoạt động của quần chúng lao động là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của XH quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử
  Song quần chúng nhân dân còn là nguồn duy nhất và vô tận của mọi của cải tinh thần
  Con người bắt đầu sản xuất thì cũng bắt đầu sáng tạo ra giá trị văn hoá tinh thần và tạo điều kiện cho nền văn hoá đó phát triển và tiến bộ không ngừng. Chính vì lẽ đó Bác Hồ nói: Quần chúng là những người sáng tạo công nông là những người sáng tạo nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra của cải vật chất cho XH quần chúng còn là người sáng tác nữa …những câu tục ngữ những câu dè ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng.các sáng tác ấy rất hây mà lại ngắn chứ không “Trường thiên đại hải” dây cà ra dây muốn … nhưng sáng tác ấy là nững hòn ngọc quí …
  Chính hoạt động thực tiển của quần chúng lại là nguồn cảm hứng vô tận cho việc sáng tác của những người làm văn học nghệ thuật của văn hoá khoa học làm phong phú đời sống tinh thần của nhân loại
  Tóm lại:chủ nghĩa duy vật khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử từ lĩnh vực sản xuất vật chất đến lĩnh vực văn hoá tinh thần. Từ những cuộc đấu tranh cách mạng đến cuộc biến dổi lịch sử bằng cách mạng xã hội
  Quần chúng nhân dân còn là lực lượng chủ yếu của mỗi cuộc cách mạng xã hội.
  Trong lịch sử đã chứng minh không có sự chuyển biến và cách mạng xã hội nào trong lịch sử mà không là hoạt động của đa số người không là ngàu hội của quần chúng
  Trong các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và các cuộc cách mạng xã hội quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu quyết định vận mệnh các cuộc cách mạng xã hội các phong trào chính trị giải phóng dân tộc
  Vai trò quần chúng nhân dân ngày càng sáng tạo và không ngừng tăng lên với sự thay đổi của các phương thức sản xuất từ thấp đến cao đó là qui luật phát triển của xã hội
  Trong XHCN quần chúng lao động thoát khỏi áp bức bóc lột trở thành người chủ thật sự của xã hội quyền lực chính trị thuộc về quần chúng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đã tạo ra những điều kiện để quần chúng lao động phát huy vai trò tích cực trong việc sáng tạo ra XH mới
  Vậy cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Không có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân nhất định không có thể có những chuyển biến cách mạng trong lịch sử
  Xuất phát từ những nội dung trên chúng ta rút ra ý nghĩa trong điều kiện đổi mới ở nước ta là:
  Lịch sử loài người đã chứng minh chân lý đó. Trong cương lĩnh của Đảng cộng sản Việt nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII của Đảng ta đã nêu ra những bài học lớn
  Quán triệt quan điểm sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân do dân và vì dân chính nhân dân là con người làm nên lịch sử
  Quần chúng nhân dân được thực hiện trước tiên mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng phải xuất phát từ những tâm tư nguyện vọng tình cảm và lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân
  Phải thường xuyên đổi mới nội dung và hình thức và biện pháp vận động quần chúng đi sâu đi sát cơ sở luôn lắng nghe tâm tư nguyện vọng quần chúng và giải đáp những vấn đề do quần chúng do thực tiễn cơ sở đặt ra
  Bên cạnh đó chúng ta cần chống chủ nghĩa cá nhân mọi biểu hiện quan liêu mệnh lệnh cửa quyền hách dịch ức hiếp trù dập quần chúng như không theo đuôi quần chúng


More...

Câu 4:Trình bày nội dung của qui luật “Lượng - Chất” đối với sự phát triển ? Hãy nêu nhận xét của bản thân: Đánh giá chất lượng của phong trào “Xoá đói giãm nghèo” ở tỉnh Cà Mau trong những năm gần đây:

By luctranvan

                     Bồ câu

Giữa “Lượng và Chất ” là hai mặt vốn có và cùng tồn tại khách quan trong bất kỳ sự vật hiện tượng giữa chúng có quan hệ biện chứng cùng vận động biến đổi trong mọi sinh vật.
 Sự vật biến đổi bắt đầu từ vật Lượng biến đổi dần dần về chất Lượng biến đổi theo hướng tăng giãm đến một giới hạn mà nó chưa làm thay đổi về chất của sự vật gọi là Độ. Tại điểm giới hạn mà sự biến đổi về Lượng làm thay đổi căn bản về Chất của sự vật gọi là điểm nút . Sự thay đổi về chất vượt qua điểm nút gọi là bước nhãy vọt. Đó là bước ngoặc căn bản của sự thay đổi về Lượng dẫn đến sự biến đổi về chất của sự vật làm cho sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời. Đây được xem là kết thúc một chương trình biến đổi giữa Lượng và Chất.
 Khi một sự vật mới ra đời với chất mới của nó thì lại có một lượng mới tương ứng phù hợp tạo nên sự thống nhất mới giữa Chất và Lượng chất mới này có thể làm thay đổi qui mô của sự tồn tại và nhịp điệu.
 Cứ thế quá trình tác động biện chứng giữa hai mặt Lượng và Chất tạo nên sự vận động phát triển không ngừng của sự vật. Đó là thế giới qui luật nó diễn ra trong cả tự nhiên xã hội và tư duy.
 
                             Lượng và Chất
Đánh giá chất lượng của phong trào “Xoá đói giãm nghèo” ở tỉnh Cà Mau trong những năm gần đây:

  Cùng với giặc ngoại xâm và giặc dốt thì đói nghèo cũng được xem là một loại giặc. Do vậy phải huy động các nguồn lực để thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người lao động. Trong đó vấn đề nâng cao dân trí được xem là một trong những động lực cơ bản nhất của công tác xóa đói giảm nghèo.
  Thật vậy khi trình độ dân trí được nâng cao giáo dục được xác định đúng vị thế quốc sách hàng đầu thì đời sống mọi mặt của người dân được nâng lên đáng kể. Dân trí nâng lên người dâncó nhận thức một cách thấu đáo về chất lượng và giá trị cuộc sống; biết tiếp thu và ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất cũng như trồng trọt và chăn nuôi. Cho nên có thể khẳng định rằng giáo dục nâng cao dân trí không chỉ là động lực cho xóa đói giảm nghèo mà còn là chìa khoá mở đường để con người làm chủ khoa học công nghệ và áp dụng nó vào sản xuất kinh doanh trực tiếp góp phần phát triển kinh tế - xã hội. 
 Tuy nhiên Cà Mau là vùng đất trẻ giàu tiềm năng về kinh tế nhưng quá trình thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo ở tỉnh vẫn còn gặp phải không ít khó khăn và thách thức. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất còn yếu kém; cơ cấu sản xuất có thay đổi nhưng còn chậm; mặt bằng dân trí trong tỉnh vẫn còn thấp; kỹ năng lao động và trình độ ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật còn hạn chế... 
  Một trong những nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là:Phải Nâng cao mặt bằng dân trí. Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn không thể thực hiện thắng lợi một cách trọn vẹn trong điều kiện dân trí còn ở mức thấp. Do vậy nhiệm vụ hàng đầu là tập trung nâng cao dân trí nâng cao kỹ năng lao động và trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cho người dân làm tốt công tác khuyến nông và đặc biệt là quan tâm chăm lo phát triển giáo dục đào tạo nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học.
Công tác xoá đói giảm nghèo là một trong những việc làm mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã được triển khai sâu rộng đồng thời đẩy mạnh các hoạt động vì người nghèo gắn liền với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ đó góp phần giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh. Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã tạo động lực thúc đẩy việc xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương kết quả các hoạt động giúp đỡ người nghèo ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn.
  Hưởng ứng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Trung ương phát động các đơn vị cá nhân các chức sắc tôn giáo các tổ chức từ thiện xã hội Việt kiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài các ngành các cấp cán bộ công chức viên chức công nhân lao động lực lượng vũ trang… tham gia vào công tác từ thiện xã hội. Phát huy tinh thần đoàn kết “lá lành đùm lá rách” cùng hướng về người nghèo xây dựng đời sống mới ở khu dân cư. Từ năm 2000 đến nay toàn tỉnh Cà Mau đã huy động được hơn 130 tỷ đồng tiền mặt xây dựng trên 23 ngàn căn nhà “đại đoàn kết” xoá nhà dột nát tạm bợ xây dựng 400 cây cầu giao thông nông thôn khoan hơn 500 cây nước sạch và các hỗ trợ khác cho người nghèo vùng nghèo từ các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức qua đó tranh thủ được nhiều lực lượng ủng hộ cuộc vận động này được nhân dân đồng tình và mang tính nhân đạo rất cao. Hy vọng rằng trong thời gian tới Chương trình “vì người nghèo” tiếp tục phát huy nhằm mang lại hiệu quả thiết thực góp phần thắng lợi xây dựng quê hương Cà Mau ngày càng ấm no - giàu đẹp hơn.
                                                  Mr Lực 
       Trần Văn Lực
      bvcmk15 

 

More...

Câu 10: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA GIỮA TỒN TẠI XH VÀ Ý THỨC XH ? Ý NGHĨ A VẤN ĐỀ TRÊN ĐỐI VỚI VIỆC “LẤY CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ-NIN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM CHO MỌI HOẠT ĐỘNG ” CỦA ĐẢNG TA?

By luctranvan

  •  - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan phương pháp luận khoa học và cách mạng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động của các đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức bóc lột xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa

    Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đối với Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô sản. Từ đây Người thực sự tìm thấy con đường cứu nước chân chính triệt để: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" và "chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới"(1).

    Đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin tư tưởng quan điểm của Hồ Chí Minh có bước nhảy vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản kết hợp dân tộc với giai cấp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

    Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chủ nghĩa chân chính nhất khoa học nhất cách mạng nhất "muốn cách mạng thành công phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lê-nin". Đối với Người chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cơ sở thế giới quan phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.

    Như vậy chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một nguồn gốc - nguồn gốc chủ yếu nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ - bộ phận cơ sở nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác - Lê-nin hay nói cách khác không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cho nên có thể nói ở Việt Nam giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Muốn bảo vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách có hiệu quả phải bảo vệ quán triệt và giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lịch sử mà cũng là lô-gíc của vấn đề. Nó giúp chỉ ra sai lầm của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
                                                                                          

    2 - Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại" (2)

    Ở luận điểm này có hai vấn đề cần làm rõ:

    Thứ nhất tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc nổi bật là chủ nghĩa yêu nước tinh thần đoàn kết dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cả phương Đông và phương Tây. Hồ Chí Minh đã từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập tiếp thu những học thuyết của các lãnh tụ chính trị xã hội tôn giáo trong lịch sử. Người nói: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

    Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.

    Khổng Tử Giê-su C. Mác Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người mưu hạnh phúc cho xã hội...".

    Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy"(3).

    Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lê-nin bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà là sự tổng hòa sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa truyền thống Việt Nam tinh hoa văn hóa nhân loại với chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

    Thứ hai tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin... Vậy sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó như thế nào?

    Ngay từ năm 1924 sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành một cán bộ của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự khác nhau giữa thực tiễn của các nước tư bản phát triển ở châu Âu mà C. Mác Ph. Ăng-ghen và V.I. Lê-nin đã chỉ ra với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến nông nghiệp lạc hậu ở phương Đông. Do đó cần bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử phương Đông. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi Quốc tế Cộng sản Người viết: "Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây... Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung "cơ sở lịch sử" của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm"(4).

    Việc tiếp thu vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Hồ Chí Minh là cả quá trình gắn với hoạt động thực tiễn kết hợp lý luận với thực tiễn xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn. Người nhấn mạnh rằng việc học tập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin trước hết phải nắm vững "cái cốt lõi" "linh hồn sống" của nó là phương pháp biện chứng; học tập "tinh thần lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng lập trường quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta". Người còn chỉ rõ: "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin"(5).

    Từ những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận thể hiện tư duy độc lập sáng tạo Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời của mình đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tạo ra một hệ thống luận điểm mới sáng tạo hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Luận điểm sáng tạo lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh là luận điểm về chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Những tác phẩm của Người là "Bản án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản năm 1925) và "Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương" đã vạch trần bản chất và những thủ đoạn bóc lột đàn áp tàn sát dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ nỗi đau khổ của kiếp nô lệ nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Đây là những tài liệu “có một không hai” về chủ nghĩa thực dân; ở đó sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà lý luận mác-xít đề cập đến(6). Những luận điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân đặc biệt là hình ảnh về "con đỉa hai vòi" "con chim hai cánh" đã không chỉ có tác dụng thức tỉnh các dân tộc thuộc địa mà còn cảnh tỉnh các đảng cộng sản ở chính quốc.

    Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong trong phê phán chủ nghĩa thực dân đồng thời cũng là người lãnh đạo dân tộc mình thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.

    Đề cương Về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I. Lê-nin viết năm 1920 đã thức tỉnh Nguyễn Ái Quốc đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin vì đây là chủ nghĩa duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Nhưng vượt trên những hạn chế lúc bấy giờ trong nhận thức và đánh giá về phong trào cách mạng thuộc địa: Cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc là "hậu bị quân" của cách mạng vô sản chính quốc; cách mạng chính quốc thắng lợi thì các thuộc địa mới được giải phóng Hồ Chí Minh vốn là người dân thuộc địa hiểu sâu sắc khát vọng và tiềm năng sức mạnh to lớn của các dân tộc thuộc địa nên đã nêu lên luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể "chủ động đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta" giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó thúc đẩy cách mạng chính quốc.

    b. Khi phân tích xã hội của các nước thuộc địa Hồ Chí Minh tiếp thu vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách sáng tạo chủ yếu xuất phát từ mâu thuẫn cơ bản của các nước thuộc địa đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc thực dân thống trị và bè lũ tay sai với toàn thể nhân dân dân tộc không phân biệt giai cấp tôn giáo... Theo Người ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Đông do trình độ sản xuất kém phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở các nước phương Tây. Từ đó Người có quan điểm hết sức sáng tạo là gắn chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ nghĩa quốc tế và nêu lên luận điểm: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước". Người còn cho rằng chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc tế Cộng sản là "một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời".

    c. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Người khẳng định phải đi từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp; dân tộc không thoát khỏi kiếp ngựa trâu thì ngàn năm giai cấp cũng không được giải phóng. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân nông dân trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

    d. Cũng từ luận điểm cơ bản đó Hồ Chí Minh đã có những phát hiện sáng tạo về Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nông dân chiếm đa số dân cư; xác định quy luật hình thành của Đảng là kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước". Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc.

    e. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản hàng đầu của Cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã xác định: phải giành chính quyền bằng bạo lực bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố không chịu hạ vũ khí.

    g. Trên cơ sở kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc học tập kinh nghiệm hoạt động quân sự của thế giới và của các Đảng anh em tổng kết thực tiễn đấu tranh vũ trang chiến tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra học thuyết quân sự hiện đại của Việt Nam. Trong đó nổi bật là quan điểm về chiến tranh nhân dân chiến tranh toàn dân toàn diện trường kỳ; về xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân với ba thứ quân chủ lực địa phương dân quân tự vệ; về nền quốc phòng toàn dân toàn diện hiện đại...

    h. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin sau khi cách mạng vô sản thắng lợi giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên Hồ Chí Minh cho rằng "mục đích của Quốc tế Cộng sản là làm thế giới vô sản cách mạng thiết lập vô sản chuyên chính" nhưng chúng ta phải căn cứ vào trình độ chính trị kinh tế xã hội của đất nước mà đề ra đường lối chiến lược cách mạng phù hợp "chứ không phải nước nào cũng phải làm cách mạng vô sản lập chuyên chính như nhau". Vì vậy ngay từ Chánh cương vắn tắt (1930) Người đã nêu: Thiết lập Chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941) Người đề ra chủ trương thành lập "một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần Tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào mà của chung toàn thể dân tộc".

    i. Về vấn đề chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước hết Người khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ chúng ta nhất định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta mới thực sự giải phóng được dân tộc xã hội và con người. Vì vậy chủ trương tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng dân tộc dân chủ) là một sáng tạo lớn có tính cách mạng cao và phù hợp với thực tiễn đất nước.

    Người chỉ rõ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là "đánh thắng lạc hậu và bần cùng để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta cho con cháu ta"(7). Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là "từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa... Vì vậy nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại có văn hóa và khoa học tiên tiến"(8).

    Tóm lại tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như không thể hiểu và quán triệt vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

  • Nguồn:Tạp chí Cộng sản
                                      

 

 Trần Văn Lực 
    bvcmk15

More...

Câu 05: Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn? Liên hệ phê phán “Bệnh kinh nghiệm” Và “Bệnh giáo điều” trong đội ngũ cán bộ hiện Nay

By luctranvan


  • Với bản chất khoa học cách mạng và phê phán phép biện chứng duy vật như Mác và Engen đã khẳng định: "không chịu khuất phục trước một cái gì cả”. Trên một ý nghĩa nào đó phép biện chứng duy vật không chỉ đối lập với phép biện chứng duy tâm mà nó còn là phương tiện chủ yếu để khắc phục ngăn ngừa các khuynh hướng tư duy dẫn đến nhận thức sai lầm các quy luật khách quan chi phối sự biến đổi của đời sống xã hội. 

    Những khuynh hướng sai lầm này biểu hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động thực tiễn của con người và làm cản trở thậm chí triệt tiêu sự phát triển do đó chúng được coi là những căn bệnh. Với ý nghĩa đặc biệt như vậy của phép biện chứng duy vật việc đề cao vai trò của nó đối với việc khắc phục những sai lầm trong tư duy càng trở nên có ý nghĩa hết sức to lớn.

    Dưới đây chúng tôi trình bày một số sai lầm tiêu biểu trong tư duy và trong nhận thức cần được khắc phục và con đường khắc phục chúng.

    Về bệnh chủ quan duy ý chí 

    “Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm kép trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủ nghĩa chủ quan lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện khuynh hướng tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể trong quan niệm và hành động phủ nhận hoàn toàn hay phần nào bản chất và tính quy luật của thế giới vật chất của hiện thực khách quan".

    Thực chất của căn bệnh này là trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn người ta tuyệt đối hoá nhân tố chủ quan xa rời hiện thực khách quan coi thường các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển. 

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí. Nếu vận dụng nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để xem xét thì rõ ràng bệnh chủ quan duy ý chí là kết quả nếu không nói là tất cả của những điều kiện sinh hoạt vật chất - xã hội cụ thể là của trình độ phát triển thấp kém về kinh tế. Đó chính là nguyên nhân của những nguyên nhân sau đây: 

    Bệnh chủ quan duy ý chí là sự thể hiện về trình độ văn hoá khoa học của chủ thể nhận thức có thể khẳng định rằng ở một mức độ nào đó người ta không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá khoa học chưa đạt đến một chuẩn mực cần có. Vì vậy sự yếu kém về trình độ văn hoá khoa học sẽ tất yếu dẫn đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí.

    Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường xuyên chủ động nâng cạo năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm cả quá trình học tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). Về điểm này Engen đã từng khẳng định: "Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta. Năng lực ấy cần phái được phát triển hoàn thiện... Vì vậy để khắc phục tình trạng yếu kém đó cách trước tiên và chủ yếu là phải học tập rèn luyện lý luận. của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 

    Tựu trung bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng. Do đó Lênin đã gọi căn bệnh này "là sự mù quáng chủ quan" là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. Về lý luận bệnh chủ quan duy ý chí có nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm mống cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức. Song là một loại bệnh "ấu trĩ tả khuynh" nên nó vẫn có khả năng được ngăn ngừa và loại bỏ. 

    Thực tiễn cho thấy quá trình hoạch định đường lối chiến lược sách lược cách mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương chính sách và pháp luật nếu bị sự can thiệp áp đặt của ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước mà trước mắt cũng như lâu dài hậu quả của nó khó có thể lường trước được. Về vấn đề này V.I.Lênin đã cảnh báo: "Đối với một chính Đảng vô sản không sai lầm nào nguy là nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. Định ra một sách lược vô sản nói trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại". 

    Có thể sau khi chủ trương đường lối bị thất bại do bệnh chủ quan gây nên những người hoạch định chúng sớm nhận ra sai lầm do đó chúng có thể được khắc phục sửa chữa cho phù hợp với quy luật khách quan và yêu cầu của thực tiễn. Nhưng cũng có thể xảy ra các tình trạng sau đây: 1) không nhận thức được nguồn gốc sai lầm về mặt tư duy nhận thức 2) nhận thức được nguồn gốc sai lầm đó nhưng chậm được sửa chữa khắc phục. 

    Trong trường hợp thứ hai ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục sửa chữa sai lầm theo chúng tôi còn có nguyên nhân chủ quan khác. Đó là do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm sai lầm chủ quan tìm cách thuyết minh cho "sự sáng tạo hợp quy luật" hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác hoặc cho nguyên nhân khách quan... Trong tình hình đó thay cho việc tìm cách khắc phục sai lầm thì có thể là thái độ thời ơ chờ đợi sự may rủi... và do đó sai lầm càng trở nên nghiêm trọng.

    Như vậy nguyên nhân lẫn trong hậu quả. Bệnh chủ quan duy ý chí còn dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính hình thức chủ nghĩa bệnh gia trưởng độc đoán chuyên quyền ban phát đặc ân tệ sùng bái cá nhân tham ô lãng phí coi thường người lao động...

    Ở Việt Nam trong thời kỳ xây dựng CHXH trước đây chúng ta cũng đã mắc phải căn bệnh này. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo phát triển kinh tế và do đó dẫn đến việc đề ra những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triền sản xuất. Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới chúng ta đã không có được một đường lối chính sách phát triển kinh tế thận trọng và khoa học dẫn đường. Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật. 

    Là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức trình độ lý luận mà còn là sản phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài đến lượt nó bệnh chủ quan duy ý chí trở thành một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị đình đốn sa sút. Do vậy quá trình khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ nhận thức trình độ lý luận trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật với việc đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế. 

    Chừng nào căn bệnh này chưa được khắc phục triệt để thì nó sẽ còn gắn kết chặt chẽ với bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều làm cản trở sự phát triển đất nước.


    Về bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa 

    Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa được đề cập ở đây là muốn nói đến những sai lầm trong phương pháp tư duy cũng như trong cải tạo thực tiễn. Thực chất của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm coi kinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao kinh nghiệm cảm tính coi thường tri thức lý luận tri thức khoa học vận dụng kinh nghiệm để giải mã những vấn đề thực tiễn một cách máy móc dẫn đến tình trạng áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Vậy họ lấy những kinh nghiệm đó ở đâu? Về đại thể đó là sự từng trải của bản thân kinh nghiệm của người khác kinh nghiệm của địa phương này hay địa phương nọ kinh nghiệm của nước này hay nước khác kinh nghiệm của các thế hệ trước… Tuy nhiên trong số nguồn kinh nghiệm đó thì xu hướng chủ yếu là tuyệt đối hoá kinh nghiệm bản thân. Những người mắc bệnh kinh nghiệm không hiểu được rằng: 

    Thứ nhất những kinh nghiệm của bản thân họ chỉ mang tính chất cục bộ chứ không phải là cái phổ biến và càng không phải là tri thức kinh nghiệm phổ biến theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. 

    Thứ hai những kinh nghiệm này họ vay mượn của người khác hoặc của quá khứ chưa hẳn đã là những kinh nghiệm được bảo tồn và phát triển theo "quan điểm chọn lọc". Hơn nữa những tri thức kinh nghiệm mới chỉ là sự khái quát từ một thực tiễn một hoàn cảnh cục bộ riêng biệt và trong nhiều trường hợp chúng chỉ mới phản ánh được cái bề ngoài ngẫu nhiên nhưng trong thực tế cụ thể sự việc đã diễn ra một cách khác mà chúng ta đã không thể (và bất cứ ai cũng không có thể) dự đoán được nó đã diễn ra một cách độc đáo hơn và phức tạp hơn nhiều.

    Thứ ba "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu.

    Con người Việt Nam vốn mang đậm nét "tư duy kinh nghiệm". Vì vậy mặc dù đã được trang bị chủ nghĩa Mác -Lênin đặc biệt là phép biện chứng duy vật nhưng ở một số nhà quản lý của chúng ta ít nhiều vẫn mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Với căn bệnh này trong hoạt động thực tiễn họ đã rơi vào tình trạng mò mẫm sự vụ tuỳ tiện tự ti không nhất quán trong việc thi hành các chủ trương chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và bản thân họ cũng trở nên bảo thủ lạc hậu và trì trệ bởi phương pháp hành động cũ kỹ. Hậu quả đó sẽ trở lên nghiêm trọng hơn khi bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan duy ý chí.


    Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi phải nắm vững phép biện chứng duy vật phải thấy được mối quan hệ qua lại và sự thống nhất biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận. Phải bám sát thực tiễn khái quát thực tiễn khái quát lý luận xây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn phù hợp với từng thời kỳ lịch sử. Vê bệnh giáo điều Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong quá trình tư duy của chủ thể ( tính máy móc rập khuôn cứng nhắc thiếu sáng tạo) mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn. Thực chất của bệnh giáo điều là sự tuyệt đối hoá tri thức lý luận tri thức khoa học coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc những tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không tính đến tính lịch sử - cụ thể của những hoạt động đó. 

    Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận nhất là lý luận của CNDV biện chứng do đó dẫn đến hạn chế khả năng áp dụng tri thức một cách linh hoạt sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội.

    Trong thực tiễn đôi khi bệnh giáo điều biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một cách đơn giản lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng cái đặc thù hoặc áp. dụng một lý thuyết một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn. Sai lấm đó chính là ở chỗ như Lênin nói: "Nêu chỉ biết bắt chước không có tinh thần phê phán mà đem rập khuôn kinh nghiệm đó một cách mù quáng vào những điều kiện khác như thế là sai lầm nghiêm trọng". 

    Ở nước ta ngay sau khi tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng là phạm chủ nghĩa giáo điều”. Lời căn dặn đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị trong việc học tập kinh nghiệm phát triển kinh tế và quản lý kinh tế của các nước phát triển trên thế giới.

    Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam. Rất tiếc khi phát hiện ra sai lầm chúng ta đã chậm khắc phục sửa chữa nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước . Để căn bản khắc phục căn bệnh này theo tinh thần của phép biện chứng duy vật chúng ta phải triệt để phân tích mọi vấn đề trong tính lịch sử - cụ thể của nó. Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp tránh rập khuôn máy móc tránh tuyệt đối hoá các tri thức đã có. 

    Những căn bệnh trên đây thường gắn bó chặt chẽ với nhau. Chúng là một trong những nguyên nhân đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế xã hội những năm 80. Với tinh thần cách mạng khoa học Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trong đó đổi mới tư duy lý luận được xem là cơ sở. Từ đó đến nay chúng ta đã có những bước tiên quan trọng trong việc khắc phục các khuynh hướng tư duy sai lẩm vận dụng một cách khoa học tư duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

    Tuy nhiên vốn là những bệnh đã tồn tại khá lâu dài và những cơ sở nảy sinh ra chúng chưa hoàn toàn mất đi nên chúng chưa hoàn toàn bị loại trừ. Ở mức độ nào đó những căn bệnh này vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đổi mới của chúng ta.

    Việc ngăn ngừa khắc phục các căn bệnh nói trên về thực chất phải là quá trình xoá bỏ những nguồn gốc đã sinh ra chúng. Điều đó có nghĩa là phải xoá bỏ tình trạng yếu kém về tư duy lý luận phát triển tư duy lý luận lên trình độ cao. Muốn vậy trước hết phải nắm vững phương pháp luận biện chứng duy vật và thông qua đó không ngừng nâng cao trình độ lý luận năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn.

    Như vậy nắm vững phép biện chứng duy vật sẽ giúp cho chủ thể vừa ngăn ngừa khắc phục những khuynh hướng tư duy sai lầm vừa nâng cao năng lực tư duy tạo khả năng giải quyết đúng đắn những vấn đề do thực tiên đặt ra.
  •                         
  • Nguồn: Tạp chí Triết học
  • Mr Lực                                                       

    Trần Văn Lực

        bvcmk15  





More...

CÂU 6: TRÌNH BÀI VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT ĐỐI VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT ?

By luctranvan

  • 2009-01-04
  • 18:55:57
  • Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ việc con người chinh phục giới tự nhiên bằng tất cả sức mạnh hiện thực của mình trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã hội là cái nói lên năng lực của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội .
    Lực lượng sản xuất được tạo thành do sự kết hợp giữa lao động với tư liệu sản xuất mà trước hết là với công cụ lao động cũng như khoa học .
    Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và tái sản xuất bao gồm: các quan hệ sở hửu đối với tư liệu sản xuất các quan hệ trong tổ chức quản lý và sản xuất các quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất .
    Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phụ thuộc và tác động lẫn nhau một cách biện chứng và biểu hiện thành một trong những quy luật cơ bản nhất của sự vận động của đời sống xã hội .
    Sự biến đổi của sản xuất luôn luôn theo chiều tiến bộ và xét cho cùng bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất trước hết là công cụ lao động. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Đương nhiên khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển thì tính chất của cũng phát triển theo .
    Trình độ của lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng của con người thực hiện quá trình biến đổi và thích nghi với giới tự nhiên nhằm bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của mình thông qua công cụ lao động. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sản phẩm của sự kết hợp giữa các nhân tố:
    •Trình độ của công cụ lao động 
    •Trình độ tổ chức lao động xã hội
    •Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất
    •Trình độ kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người 
    •Trình độ phân công lao động

    Tính chất của lực lượng sản xuất là khái niệm nêu lên tính chất xã hội hoá của tư liệu sản xuất và của lao động. Ứng dụng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội được thể hiện thông qua sự phát triển của công cụ lao động tính chất xã hội của lực lượng sản xuất cũng biến đổi. Tuy vậy trong nền sản xuất xã hội đôi khi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không đi đôi với tính chất xã hội hoá của nó .
    Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất phản ánh khả năng chinh phục giới tự nhiên của con người: khả năng này chỉ đạt tới đỉnh cao khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lượng sản xuất .
    Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lượng sản xuất là một trạng thái trong đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển. Chỉ khi nào cả ba mặt của quan hệ sản xuất thích ứng với trình độ của lực lượng sản xuất tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất thì sẽ tạo ra cơ sở phát triển hết khả năng của lực lượng sản xuất .
    Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở mức cao hơn sẽ xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ chuyển thành không phù hợp. Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tất yếu sẽ dẫn tới việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều này sẽ dẫn tới sự diệt vong của phương thức sản xuất cũ và sự ra đời của phương thức sản xuất mới .
    Như vậy lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất một khi lượng sản xuất đã biến đổi thì sớm hay muộn thì quan hệ sản xuất cũng phải biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mới .
    Tuy vậy quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất quy định mục đích xã hội của sản xuất tác động đến khuynh hướng phát triển của công nghệ. Trên cơ sở đó hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp phát triển hợp lý và đồng bộ với lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong trường hợp ngược lại quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo cũng sẽ làm cho lực lượng sản xuất không phát triển. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã trở nên gay gắt đòi hỏi phải giải quyết song con người không phát hiện được hay khi đã phát hiện được mà không giải quyết hoặc giải quyết một cách sai lầm… thì không thể phát triển được lực lượng sản xuất thậm chí còn phá hoại lực lượng sản xuất .
    Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động tới toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử loài người từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản tương lai và là quy luật cơ bản nhất trong hệ thống các quy luật xã hội .
 
 Trần Văn Lực
   bvcmk15 
 
Mời các đ/c bổ sung thêm nhằm hoàn thiện hơn 

 

More...

Câu 1:Phân tích Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay?

By luctranvan

  • 2009-01-04
  • 18:56:23
  • 1 Phạm trù vật chất và phạm trù ý thức
  • Lịch sứ của triết học cũng là lịch sử của những cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề cơ bản của triết học với hai phạm trù lớn: vật chất và ý thức. Song để đi đến được những quan niệm định nghĩa khoa học và tương đối hoàn chỉnh về chúng cũng phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định với sự ra đời và phát triển của chủ nghỉa duy vật biện chứng.
    Vật chất theo Lênin. “là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại chụp lại phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
    Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động để thể hiện sự tồn tại của mình.Không thể có vật chất không vận động và không có vận động ở ngoài vật chất.Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian.Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể .
    Ý thức lẩn phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội.Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan là sự phản ánh tích cực tự giác chủ động sáng tạo thế giới khách quan và bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn.Chính vì vậy không thể xem xét hai phạm trù này tách rời cứng nhác càng không thể coi ý thức (bao gồm cảm xúc ý chí tri thức ….) là cái có trước cái sinh ra và quyết định sự tồn tại phát triển của thế giới vật chất.

  • 2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 

    - Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức.Vật chất là cái có trước nó sinh ra và quyết định ý thức:
    Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất : bộ não ngưòi – cơ quan phản ánh thế giơí xung quanh sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi tạo thành nguồn gốc tự nhiên .
    Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành tồn tại và phát triển của ý thức .
    Mặt khác ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Vật chất là đối tượng khách thể của ý thức nó quy định nội dung hình thức khả năng và quá trình vận động của ý thức .
    -Tác động trở lại của ý thức 
    Ý thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó.Hơn nữa sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động máy móc nguyên si thế giới vật chất vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người .
    Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan con người đề ra mục tiêu phương hướng xác định phương pháp dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy.Vì vậy ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu :Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất.Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan do đó:sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất.
    Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được.Và suy cho cùng dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất .
    Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội .
    Ngoài ra mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn khách thể và chủ thể vấn đề chân lý …

  • Ý nghĩa phương pháp luận .
    Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với ý thức cho nên để nhận thức cái đúng đắn sự vật hiện tượng trước hết phải xem xét nguyên nhân vật chất tồn tại xã hội_ để giải quyết tận gốc vấn đề chứ không phải tìm nguồn gốc nguyên nhân từ những nguyên nhân tinh thần nào.“tính khách quan của sự xem xét” chính là ở chỗ đó .
    Mặt khác ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất cho nên trong nhận thức phải có tính toàn diện phải xem xét đến vai trò của nhân tố tinh thần.
    Trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật. Đồng thời cũng phải nâng cao nhận thức sử dụng và phát huy vai trò năng động của các nhân tố tinh thần tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao.
    Không chỉ có vậy việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái độ tiêu cực thụ động chờ đợi bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan duy ý chí do tách rời và thổi từng vai trò của từng yếu tố vật chất hoặc ý thức.
  Trần Văn Lực
     bvcmk15  
 
 Các Đ/c bổ sung thêm nhằm để hoàn thiện hơn
 
 
Chưa ra biển tưởng Biển xanh phẳng lặng
Chưa vào đời tưởng đời lặng lẽ trôi
Nhưng em ơi không phải là như thế
Biển xanh sóng dữ đời éo le. 



 

More...