Câu 7: Để nền kinh tế nước ta hội nhập thành công và phát triển bền vững

By luctranvan


Câu 7:

Để nền kinh tế nước ta hội nhập thành công và phát triển bền vững

Lời Ban Biên tập: Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra nghị quyết Về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG Ủy viên Bộ Chính trị Thường trực Ban Bí thư có bài viết quan trọng làm rõ sáu nhóm vấn đề lớn và cấp bách mà nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt; đồng thời chỉ ra những nhiệm vụ lớn cần giải quyết một cách đồng bộ hệ thống để đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trên nhiều mặt trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hội nhập kinh tế quốc tế. Trong vòng 20 năm GDP tăng 4 lần hơn 40 triệu người dân thoát khỏi đói nghèo. Với việc trở thành thành viên WTO nền kinh tế nước ta được xác lập một vị thế mới ngày càng vững chắc trong hệ thống kinh tế thế giới sức hấp dẫn đầu tư tăng lên mạnh mẽ.

Nền kinh tế nước ta đã đổi mới căn bản cả thế và lực đang đứng trước những cơ hội to lớn và triển vọng sáng sủa hơn bao giờ hết. Đó là sự thay đổi chất lượng quan trọng của quá trình phát triển đưa nền kinh tế nước ta sang một giai đoạn mới giai đoạn đổi mới và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện và sâu sắc hơn.

Hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nhưng mặt khác thách thức cũng lớn hơn và khó khăn cũng tăng lên. Nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn gấp bội trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động khó dự đoán và có độ rủi ro cao. Trong điều kiện đó nếu không có một cơ cấu kinh tế tổng thể hiệu quả và vững chắc một hệ thống thể chế vận hành đồng bộ nền kinh tế sẽ không thể hội nhập thành công càng không thể cạnh tranh thắng lợi và phát triển bền vững. Đây chính là điểm mấu chốt phải tính đến khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn tới.

Vì vậy chính tại thời điểm bước ngoặt hiện nay phải tỉnh táo nhìn nhận đánh giá một cách khách quan và khoa học thực lực của nền kinh tế xác định chính xác những vấn đề phải giải quyết để đạt được mục tiêu sớm rút ngắn khoảng cách tụt hậu "đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020".

Trong nhiều văn kiện cùng với việc khẳng định những thành công to lớn Đảng ta nêu hai nhận định quan trọng về thực trạng khác của nền kinh tế. Đó là:

Thứ nhất trong một thời gian dài kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng.

Thứ hai chất lượng tăng trưởng hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh chậm được cải thiện.

Đây là hai nhận định nghiêm khắc và khách quan chỉ ra điểm yếu cơ bản cả ở khía cạnh số lượng và chất lượng của nền kinh tế nước ta khi bước vào giai đoạn phát triển mới trong môi trường cạnh tranh quốc tế đang gia tăng áp lực mạnh. Hai nhận định đó khắc họa nên thực chất cốt lõi của các thách thức phát triển định rõ tính chất gay gắt và mức độ quyết liệt có thể nói là sinh tử của các nhiệm vụ mà nền kinh tế vốn còn thấp kém của nước ta phải giải quyết trong giai đoạn tới trên tinh thần nỗ lực vượt bậc tận dụng tối đa cơ hội vượt qua mọi thách thức để phát triển nhanh hiệu quả và bền vững.

Trước thực trạng nêu trên có hai câu hỏi đặt ra.

Một là tại sao một nền kinh tế tăng trưởng nhanh đạt nhiều thành tích tạo được uy tín niềm tin và sức hấp dẫn quốc tế to lớn như vậy lại chưa giải quyết tốt ở mức cần và có thể cả vấn đề số lượng lẫn chất lượng tăng trưởng?

Hai là cách thức tăng trưởng và phát triển đã mang lại cho nền kinh tế những thành quả đáng tự hào trong 20 năm qua làm sao để có thể tiếp tục bảo đảm giải quyết tốt các nhiệm vụ phát triển đặt ra trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế gay gắt của giai đoạn tới?

Việc trả lời hai câu hỏi này về thực chất là phải xác định đúng nguyên nhân của tình hình. Đây là cơ sở quan trọng có ý nghĩa định hướng để chúng ta xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong giai đoạn tới.

Các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã nhiều lần đề cập các nguyên nhân của những yếu kém bất cập trong quá trình phát triển 20 năm qua. ở đây cần khái quát lại một số nguyên nhân chủ yếu làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng chưa đạt yêu cầu cả về tốc độ lẫn chất lượng và hiệu quả. Đó là những nguyên nhân gắn với mô hình thể chế cơ cấu và bộ máy.

a) Mô hình tăng trưởng chứa đựng một số mâu thuẫn và bất cập.

- Tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế đạt được chủ yếu bằng tăng đầu tư hơn là nhờ nâng cao năng suất và hiệu quả. Tăng vốn đầu tư và đẩy mạnh khai thác tài nguyên (để bán) nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng cao chiếm vị trí quan trọng trong quản lý nền kinh tế.

- Vừa xây dựng nền kinh tế theo hướng mở cửa hội nhập nhưng lại còn vừa đan xen "hướng nội" "thay thế nhập khẩu" và "tự bảo đảm" vừa "hướng ngoại" và "dựa vào xuất khẩu".

- Lợi thế lớn nhất của nền kinh tế - nguồn lao động dồi dào và giá rẻ - chưa được quan tâm khai thác phát triển đúng hướng và đúng tầm.

- Nguồn vốn đầu tư Nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả còn thấp. Tiềm năng của khu vực dân doanh và khu vực đầu tư nước ngoài chưa được phát huy đầy đủ do những cản trở về thủ tục hành chính và một số chính sách còn thiếu ổn định nhất quán.

b) Hệ thống thể chế thị trường phát triển chậm và thiếu đồng bộ trong khi đó các yếu tố của cơ chế kinh tế cũ còn duy trì cho nên gây cản trở sự phát triển.

Sau 20 năm đổi mới nền kinh tế nước ta từng bước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đứng trước một thực tế đáng báo động là các thị trường đầu vào của nền kinh tế như thị trường đất đai thị trường lao động thị trường vốn thị trường khoa học - công nghệ đều phát triển chậm không cùng nhịp độ với nền kinh tế. Vì thế hệ thống các thị trường chưa thể vận hành đồng bộ.

Thêm vào đó việc xóa bỏ các yếu tố của cơ chế cũ chưa triệt để. Tình trạng bao cấp độc quyền chia cắt thị trường và cơ chế bộ chủ quản vẫn tiếp tục tồn tại kéo dài cản trở quá trình hình thành cơ chế thị trường lành mạnh.

Trong một hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ và không ít mặt yếu kém bất cập như vậy nền kinh tế thị trường đang được tạo lập khó có thể vận hành thông suốt và hiệu quả. Đây chính là nguồn gốc sâu xa là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế của các doanh nghiệp và của sản phẩm Việt Nam chậm được cải thiện.

c) Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nhất là theo hướng hiện đại hóa.

Nhận định quan trọng này đã được nêu tại Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX) phản ánh một thực tế rất đáng quan tâm trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa giai đoạn vừa qua.

Liên quan đến thực trạng này nổi lên ba vấn đề lớn:

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu chưa tuân thủ nguyên tắc là dựa vào lợi thế so sánh và phải liên tục tạo ra lợi thế so sánh mới cho nền kinh tế. Trong nền kinh tế mở để cạnh tranh thắng lợi và khẳng định vị thế trong nền kinh tế thế giới được cấu trúc theo nguyên lý dựa trên lợi thế và luôn tạo ra lợi thế mới (lợi thế động) là yêu cầu bắt buộc. Nhưng trong giai đoạn vừa qua trên thực tế nguyên tắc này chưa được coi trọng đúng mức do vậy dẫn tới chỗ cơ cấu kinh tế chậm thoát khỏi tình trạng lạc hậu kém sức cạnh tranh và hiệu quả thấp.

- Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm chưa cùng nhịp với sự chuyển dịch cơ cấu ngành và yêu cầu nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Đây là vấn đề hết sức lớn của nền kinh tế nước ta. Nó là hậu quả trực tiếp của việc đầu tư nghiêng về các ngành các dự án dùng nhiều vốn hơn là nhiều lao động chưa quan tâm đúng mức đến khu vực tạo nhiều việc làm trong nền kinh tế. Về mặt xã hội sự chuyển dịch này dẫn đến sự gia tăng chênh lệch về cơ hội việc làm và thu nhập làm cho tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ngày càng tăng lên gây ra hậu quả xấu trong xã hội.

- Trong cơ cấu công nghiệp một khâu đặc biệt quan trọng là các ngành công nghiệp phụ trợ chưa được quan tâm phát triển. Việc định hướng sử dụng công nghệ chưa được quan tâm thực chất là còn tự phát. Vì thế cơ cấu kinh tế không tạo được sự kết nối và lan tỏa phát triển cần có giữa các doanh nghiệp nhất là giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Thiếu khâu này lợi thế quan trọng lớn nhất tác động lan tỏa phát triển mạnh nhất mà dòng đầu tư nước ngoài và trong nước có thể mang lại cho nền kinh tế nước ta bị lãng phí; sức cạnh tranh của cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lẫn các doanh nghiệp trong nước chậm được cải thiện thậm chí có thể bị suy yếu đi.

d) Trong nền kinh tế vẫn còn nhiều điểm yếu gây tắc nghẽn tăng trưởng.

Tình hình này bộc lộ đặc biệt rõ trong thời gian gần đây khi cơ hội đầu tư và thương mại có khả năng tăng nhanh cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO. Chúng ta đang đứng trước một tình thế là: Cơ hội và phát triển càng mở rộng những điểm yếu của nền kinh tế lại càng bộc lộ rõ. Trong số các điểm yếu đó sự yếu kém của kết cấu hạ tầng cả "cứng" lẫn "mềm" là đặc biệt nghiêm trọng. Năng lượng (điện) và hạ tầng giao thông là hai điểm yếu điển hình nhất. Trước viễn cảnh thiếu hụt năng lượng và yếu kém về hạ tầng giao thông đường sá cảng biển có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong khi quy mô đầu tư đang gia tăng nhanh các nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải cân nhắc khi quyết định đầu tư vào nước ta. Vấn đề đang đặt ra cấp bách để thoát khỏi những điểm tắc nghẽn đó chúng ta cần rất nhiều vốn công nghệ và cần có thời gian đòi hỏi phải tranh thủ thật tốt thời cơ do hội nhập mang lại.

e) Còn nhiều hạn chế về nguồn nhân lực có trình độ cao.

Đội ngũ cán bộ công chức còn thiếu và yếu cả về năng lực chuyên môn trình độ tin học ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại tư vấn cho doanh nghiệp trong kinh doanh. Lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ trọng lớn số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu nhiều.

g) Năng lực điều hành của bộ máy quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế.

Cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng sau 10 năm tiến hành cải cách hành chính những bước tiến đạt được trong lĩnh vực này chưa nhiều. Đây là một phần việc quan trọng của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta.

Sự chậm trễ của cải cách hành chính so với đổi mới về kinh tế làm cho năng lực quản lý của bộ máy hành chính công quyền kém hiệu quả ảnh hưởng đến quá trình phát triển nền kinh tế. Điều đó càng trở nên cấp bách hơn trong bối cảnh nước ta gia nhập WTO.

Sáu nhóm vấn đề lớn và cấp bách nêu trên mà nền kinh tế đang phải đối mặt gắn kết với nhau tạo thành thách thức bao trùm. Vì thế nhanh chóng vượt qua thách thức với các nội dung cụ thể như vậy cũng là nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của giai đoạn tới.

Về bản chất đó là thách thức tự thân bên trong mang tính tổng thể. Vì thế để vượt qua thách thức đòi hỏi trước hết phải trên tinh thần tiếp tục đổi mới tư duy trong thời kỳ nền kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như một bước ngoặt lịch sử quan trọng.

Tương ứng với 6 nhóm vấn đề nêu trên cũng có 6 nhiệm vụ lớn cần giải quyết một cách đồng bộ và hệ thống. Đó là:

Thứ nhất đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển từ mô hình vừa hướng nội thay thế nhập khẩu vừa hướng về xuất khẩu dựa chủ yếu vào vốn và khai thác tài nguyên sang mô hình hướng về xuất khẩu và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới dựa trên lợi thế so sánh và liên tục tạo ra lợi thế so sánh mới. Đó là mô hình không phải chỉ dựa vào vốn và khai thác tài nguyên để đạt tốc độ tăng trưởng cao mà ngày càng phải dựa nhiều hơn vào khai thác lợi thế về lao động và tiềm năng trí tuệ.

Thứ hai đẩy mạnh tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. Trong vài năm tới cần xóa bỏ căn bản các cơ chế kinh tế cũ không còn phù hợp; tiếp tục đổi mới và phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước nhanh chóng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trọng tâm là cổ phần hóa theo tinh thần Đại hội X và Nghị quyết Trung ương 3 Trung ương 9 (khóa IX).

Thứ ba điều chỉnh lại định hướng cơ cấu ngành tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp phụ trợ. Hai nhóm ngành cần được quan tâm ưu tiên là các ngành công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao.

Thứ tư tập trung giải tỏa các điểm yếu trọng tâm trước mắt là về năng lượng điện và hạ tầng giao thông - vận tải.

Thứ năm chú trọng phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Huy động mạnh mẽ các nguồn lực để phát triển giáo dục - đào tạo tạo ra một cơ cấu lao động mới trong đó lao động có trình độ cao có kỹ năng biết ngoại ngữ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Gấp rút đào tạo đội ngũ luật sư am hiểu luật pháp quốc tế đội ngũ chuyên gia tư vấn kế toán kiểm toán quản trị doanh nghiệp đạt trình độ quốc tế.

Thứ sáu đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đồng thời với việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo không ngừng nâng cao hiệu lực hiệu quả lãnh đạo với Đảng thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh nước ta là thành viên WTO phát triển nhanh hiệu quả và bền vững.

Sáu nhiệm vụ trên đây đang đặt ra một cách cấp bách mặc dù việc giải quyết không thể một sớm một chiều. Để làm được điều đó chúng ta cần đưa các nhiệm vụ này vào chương trình hành động ở các cấp trước hết là ở tầm chiến lược quốc gia.

Với quyết tâm "nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển" để đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng những nhiệm vụ nói trên sẽ được giải quyết trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2006 - 2010 và giai đoạn tiếp theo thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanh hiệu quả và bền vững. (Tạp chí Cộng sản)

 

More...

Câu 09: Cơ cấu kinh tế

By luctranvan


Câu 09

Kinh tế là gì?

Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất các điều kiện sống của con người các mỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích.

- Khái niệm kinh tế đề cập đế các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất phân phối trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế.

 

Cơ cấu kinh tế

Theo C.Mác cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất. Mác đồng thời nhấn mạnh khi phân tích cơ cấu phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế với vị trí tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.

Phân tích cơ cấu phải theo 2 phương diện:

Phương diện thứ nhất mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu bao gồm:

  • Cơ cấu theo ngành nghề lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng vị trí tỉ trọng các ngành lĩnh vực bộ phận cấu thành nền kinh tế.
  • Cơ cấu theo quy mô trình độ kĩ thuật công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành lĩnh vực bộ phận cấu thành nền kinh tế
  • Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp khai thác tài nguyên tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Phương diện thứ hai xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội bao gồm:

  • Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội
  • Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ. Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Tính chất của cơ cấu kinh tế:

Tính chất khách quan: nền kinh tế có sự phân công lao động có các ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng nhu cầu đó. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt cô đọng nội dung chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định. Nhưng không vì thế mà áp đặt chủ quan tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp đặt chủ quan nóng vộinhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn thường dẫn đến tai hoạ không nhỏ bởi sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược khó khắc phục hậu quả lâu dài.

Tính chất lịch sử xã hội: Sự biến đổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị xã hội của từng thời kì. Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý.

Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến của mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con người với con người con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn lịch sử mỗi quốc gia lại có sự khác nhau. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất bởi các đặc trưng văn hoá xã hội bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc. Các nước có hình thái kinh tế-xã hội giống nhau song có sự khác nhau trong hình thành cơ cấu kinh tế vì điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm chiến lược mỗi nước khác nhau.

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nhóm nhân tố tác động từ bên trong

  • Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội:

thị truờng và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành lĩnh vực bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế. Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào. Cũng như vậy không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá. Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ nên tác động trực tiếp đến quy mô trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội đến vị trí tỉ trọng các ngành lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.

  • Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội. Nhu cầu xã hội là vô tận và mỗi ngày một cao. Muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao đọng tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất thay đổi công nghê thiết bị hình thành các ngành nghề mới biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp từ ngành này sang ngành khác. Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đáp ứng nhu cầu xã hội. Quá trình đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lý hơn có khả năn khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế. Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng nên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi song sự biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp không mang tính đột biến như chính sách cơ chế quản lý.

  • Quan điểm chiến lược mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định

Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt những nội dung mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan và lịch sử xã hội nhưng các tính chất đó cảu cơ cấu kinh tế lại có sự tác động chi phối của nhà nước. Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề quy định các tỉ lệ của cơ cấu kinh tế nhưng vẫn có sự tác động gián tiếp bằng cách định hướng phát triển để thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội. Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội đạt mục tiêu đề ra mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia nếu không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổ chức sản xuất đảm bảo sự cân đối giữa các sản phẩm các ngành lĩnh vực trong nền kinh tế.

Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội là định hướng chung cho mọi thành phần mọi nhà doanh nghiệp trong cả nước phấn đầu thực hiện dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định thể chế chính sách của nhà nước. Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành lĩnh vực và thành phâầ kinh tế phát triển đảm bảo tính cân đối đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế.

  • Cơ chế quản lý ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của nhà nước song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào qúa trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế.

Những sản phẩm nào ngành nào cần khuyến khích thì nhà nước giảm thuế hoặc quy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao còn đối với những ngành hàng cần hạn chế thì đánh thuế cao người sản xuất thu được ít lợi nhuận tất nhiên họ sẽ hạn chế đầu tư phát triển. Những ngành hàng hoặc lĩnh vực không ai muốn đầu tư sản xuất nhưng sản phẩm của nó lại rất cần cho xã hội thì nhà nước tự đầu tư tự tổ chức sản xuất. Nhà nước cũng có thể khuyến khích lao động chuyển đến các nơi có tài nguyên có nhu cầu lao động thông qua các chính sách kinh tế xã hội; ngược lại muốn hạt chế di dân thì phải đầu tư phát triển các thị xã thị trấn thị tứ để có điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần tương đương như các đô thị lớn.

Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ thực hiện được cơ cấy sản xuất cơ cấu dân cư tạo ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nậhp giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách thành thị và nông thôn.

Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài

  • Xu thế chính trị xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Xét đến cùng chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Sự biến động về chính trị xã hội của một nước hay một số nước nhất là nước lớn sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương thu hút vốn đầu tư chuyển giao công nghệ...của các nước khác trên thế giới và khu vực. Do đó thị trường và nguồn lực nước ngoài cũng thay đổi buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế nước mình ổn định và phát triển.

  • Xu thế toàn cầu hoá kinh tế quốc tế hoá lực lượng sản xuất

Hai xu thế trên tạo sự phát triển đan xen nhau khai thác thế mạnh của nhau trong sản xuất và trao đổi hàng hoá dịch vụ.

Các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ sự bùng nổ thông tin tạo điều kiện cho các nhà sản xuất-kinh doanh nắm bắt thông tin hiểu thị trường và hiểu đối tác mà mình muốn hợp tác. Từ đó giúp họ định hướng sản xuất kinh doanh thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợp với xu thế hợp tác đan xen vào nhau khai thác thế mạnh của nhau cùng nhau phân chia lợi nhuận.

Cơ cấu kinh tế hợp lý:

  • Là cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng đáp ứng các điều kiện sau:
  • Phù hợp các quy luật khách quan
  • Phản ánh khả năng khai thác sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực nhằm tạo ra sự cân đối phát triển bền vững.
  • Phù hợp xu thế kinh tế chính trị của khu vực và thế giới

 


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình kinh tế ở nước ta

 

ND - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải là vấn đề mới. Trong thời kỳ đổi mới quản lý nền kinh tế năm 1986 đặc biệt từ năm 1989 ở nước ta đã bàn nhiều việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tuy nhiên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế lúc bấy giờ có nhiều sự khác biệt so với hiện nay như: nước ta chưa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) chưa xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trầm trọng như hiện nay. Mặt khác chuyển dịch cơ cấu kinh tế  ở nước ta trước đây trong điều kiện cơ sở hạ tầng trình độ khoa học - công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin còn thấp kém kinh tế - xã hội còn lạc hậu môi trường còn chưa bị ô nhiễm nặng. Ngày nay chúng ta đã trở thành thành viên của WTO nước ta phải thực hiện cải cách cơ bản nền kinh tế vì chúng ta là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới mà nền kinh tế thế giới sẽ phát triển theo hướng tiết kiệm năng lượng bảo vệ khí hậu bảo vệ môi trường bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

 

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng ở nước ta. Năm 2007 tăng trưởng GDP của nước ta đạt 8 48% đến năm 2008 giảm xuống 6 18% dự kiến cả năm 2009 tăng khoảng 5 2%. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế ở nước ta chủ yếu theo số lượng. Việc tăng trưởng do yếu tố đầu tư vốn chiếm khoảng 57 5% do yếu tố tăng lao động khoảng 20%. Cả hai yếu tố chiếm khoảng 77 5% còn yếu tố năng suất và hiệu quả chiếm 22 5% trong lúc đó các nước trong khu vực yếu tố năng suất và hiệu quả chiếm 36%-40%.

 

Chính do mô hình kinh tế tăng trưởng theo số lượng như trên và do kinh tế thế giới khủng hoảng nghiêm trọng hiện nay làm cho vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất nhập khẩu khách du lịch đến nước ta giảm nhập siêu và bội chi tăng. Rõ ràng phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế để hạn chế và khắc phục mô hình kinh tế tăng trưởng chủ yếu theo số lượng trong tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới. Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp kích thích kinh tế trong đó có biện pháp hỗ trợ lãi suất 4% giảm giãn thuế có tác dụng tích cực góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tuy nhiên những biện pháp kích thích kinh tế vẫn mang tính chất tình thế ngắn hạn trước mắt. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính chất dài hạn là hết sức cần thiết để phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô đón cơ hội khi kinh tế thế giới phục hồi bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển bền vững.

 

Qua thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kỳ đổi mới kinh tế trước đây và tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta những năm gần đây trong điều kiện kinh tế thế giới khủng hoảng hiện nay có thể thấy nổi lên nhiều vấn đề quan trọng có liên quan mật thiết với nhau trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta như chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng miền địa phương; chuyển dịch cơ cấu kinh tế doanh nghiệp; chuyển dịch cơ cấu vốn; chuyển dịch cơ cấu lao động; chuyển dịch cơ cấu thị trường cơ cấu thể chế kinh tế. Vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta dựa vào mô hình kinh tế nào? Theo chúng tôi đó là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh;  là mô hình kinh tế phát triển theo hướng tăng chất lượng hiệu quả và bền vững. Nói cụ thể hơn mô hình kinh tế đó thể hiện trên những mặt chủ yếu sau đây:

 

Một là tăng năng suất đất đai và năng suất biển thềm lục địa làm sao trên mỗi đơn vị diện tích đất đai ngày càng thu được nhiều giá trị sản lượng hàng hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Giá trị sản lượng của mỗi ha đất nông nghiệp ở nước ta mới đạt khoảng 1.000 USD - 1.100 USD. Trong lúc đó ở Ðài Loan (Trung Quốc) điều kiện đất đai khó khăn hơn đã đạt 10.000 USD/ha đất nông nghiệp ở khu công nghệ cao đạt 15.000 - 18.000 USD/ha.

 

Hai là tăng năng suất lao động. Giá trị sản lượng nông nghiệp đạt khoảng 256-300 USD/lao động nông nghiệp còn ở Ma-lai-xi-a đạt 6.112 USD ở Phi-li-pin đạt khoảng 1.438 USD ở Thái-lan đạt khoảng 863 USD.

 

Ngoài ra mô hình kinh tế đó phát triển theo hướng tăng hiệu quả chi phí tiết kiệm năng lượng bảo đảm an sinh xã hội bảo vệ và cải thiện môi trường. Việc sử dụng năng lượng ở nước ta còn rất lãng phí hiệu suất sử dụng trong các nhà máy đốt than đầu mối chỉ đạt 28-32% thấp hơn các nước đang phát triển khoảng 10%. Các lò hơi công nghiệp có hiệu  suất sử dụng khoảng 60% thấp hơn mức trung bình thế giới khoảng 20%. Ðể sản xuất một tấn thép từ nguyên liệu quặng các nhà máy thép của nước ta cần 11 33 đến 13 2 triệu Kcal trong khi mức tiên tiến của thế giới chỉ cần 4 triệu Kcal. Tính trung bình để làm ra một giá trị sản phẩm như nhau sản xuất công nghiệp của nước ta phải tiêu tốn năng lượng gấp 1 5-1 7  lần so với các  nước phát triển trên thế giới. Theo dự báo với tốc độ gia tăng mức khai thác năng lượng như hiện nay thì không lâu nữa các nguồn năng lượng ở nước ta sẽ trở thành khan hiếm các mỏ dầu và khí đốt sẽ cạn kiệt. Việc ban hành và thực hiện ngay luật sử dụng năng lượng tiết kiệm là việc cấp thiết.

 

Báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố tháng 4-2009 xếp Việt Nam ở vị trí đầu trong danh sách bốn nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu sẽ gây nên những tác hại nặng nề như bão lụt úng lũ khô hạn thất thường tàn phá các làng xã các khu công nghiệp đô thị phá hoại sản xuất (đặc biệt sản xuất nông lâm thủy sản) các trục giao thông. Biện pháp cấp bách là phải ban hành và thực hiện luật về vấn đề biến đổi khí hậu áp dụng khoa học - công nghệ tiến bộ hạn chế và khắc phục những tác hại của biến đổi khí hậu.

 

Nước ta đặc biệt các đô thị các khu công nghiệp các trục giao thông các làng nghề bị ô nhiễm môi trường ngày càng tăng thể hiện rõ nhất là ô nhiễm không khí nước chất thải ảnh hưởng sức khỏe gây ra các bệnh dịch cho người lao động dân cư; làm cho năng suất lao động năng suất đất đai bị giảm sút; sản phẩm đặc biệt nông sản ngày càng ít sạch. Rõ ràng phải tích cực hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường bằng nhiều biện pháp như: áp dụng khoa học - công nghệ tiến bộ trong sản xuất chế biến sản phẩm xây dựng giao thông vận tải thu gom và chế biến rác. Ðể những biện pháp trở thành hiện thực phải chú ý vấn đề giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

 

Những mặt chủ yếu trên đây cần được thể hiện trong nội dung của mô hình kinh tế ở nước ta.

 

GS Nguyễn Ðình Nam

 

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá (CNH HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh hiện đại.

 

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ) đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế các thành phần kinh tế các lực lượng lao động xã hội cơ cấu kinh tế đối nội cơ cấu kinh tế đối ngoại...

1. Cơ cấu kinh đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá

Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá sau hơn 20 năm đổi mới chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây.

Về cơ cấu ngành kinh tế cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38 1% năm 1990 xuống 27 2% năm 1995; 24 5% năm 2000; 20 9% năm 2005 và đến năm 2008 ước còn 20 6%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh năm 1990 là 22 7%; năm 1995 tăng lên 28 8%; năm 2000: 36 7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41 6%. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều năm 1990 là 38 6%; năm 1995: 44 0%; năm 2000: 38 7%; năm 2005: 38 1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38 7%.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi.

Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17 3% năm 2001 lên 19 3% năm 2007. Trên cơ sở đó đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần. Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp ngư nghiệp) đã giảm 9 87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8 78%. Năm 2007 số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3 6 triệu hộ tăng 62% so với năm 2000.

Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ những định hướng đó khung pháp lý ngày càng được đổi mới tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhằm giải phóng sức sản xuất huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Về cơ cấu vùng kinh tế trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia đã hình thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc vùng đồng bằng sông Hồng vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung vùng Tây Nguyên vùng Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước.

Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp tập trung hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp chế biến nuôi trồng thuỷ sản hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của từng vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá hướng về xuất khẩu.

Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa hội nhập vào kinh tế toàn cầu thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn từ 34 7% năm 1992 lên 47% năm 2001 và đến năm 2005 là trên 50%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 - 2005 đã đạt 111 tỉ USD tăng bình quân 17 5%/năm (kế hoạch là 16%/năm) khiến cho năm 2005 bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm gấp đôi năm 2000. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao - 40 tỉ USD tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD tăng 21 5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29 5% so với năm 2007 đưa tỷ lệ XK/GDP đạt khoảng 70%.

Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo cao su may mặc giày dép hải sản... đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm 2001 vốn FDI vào Việt Nam là 3 2 tỉ USD; tiếp theo năm 2002: 3 0 tỉ USD; 2003: 3 2 tỉ USD; 2004: 4 5 tỉ USD; 2005: 6 8 tỉ USD; 2006: 10 2 tỉ USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20 3 tỉ USD tăng gấp đôi so với năm 2006 bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005 chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua.

Năm 2008 này tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64 011 tỉ USD tăng gấp đôi năm 2007. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu tháng 12 tại Hà Nội tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5 014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5 4 tỉ USD). Giải ngân vốn ODA được 2 2 tỉ USD vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2 176 tỉ USD).

Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai. Các doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu ở An-giê-ri Xin-ga-po Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào...

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách vốn tích luỹ cán cân thanh toán quốc tế... góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17 2% năm 2006 xuống còn 14 7% năm 2007 và năm 2008 còn 13 1%. Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng được lên hạng 4 bậc từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước...

2. Những hạn chế bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

So với yêu cầu đặt ra tốc độ chuyển dịch CCKT còn chậm và chất lượng chưa cao. Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung vẫn ở mức trung bình. Công nghiệp chế biến đặc biệt là những ngành công nghệ cao chưa phát triển. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên tục trong những năm gần đây. Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng dịch vụ tư vấn chậm phát triển. Tình trạng độc quyền dẫn tới giá cả dịch vụ cao chất lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực viễn thông đường sắt. Một số ngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo khoa học - công nghệ tính chất xã hội hoá còn thấp chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước.

Mới đây tháng 9-2008 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra đánh giá tổng quan về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội trong 3 năm qua (2006-2008) và dự báo khả năng thực hiện 52 chỉ tiêu chủ yếu đã được Đại hội X của Đảng đề ra trong kế hoạch kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 trong đó có các chỉ tiêu liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra cảnh báo mặc dù đã có sự chuyển dịch đúng hướng song tiến độ thực hiện còn chậm so với mục tiêu kế hoạch; trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái hiện nay mà dự báo là sẽ còn rất nan giải chí ít là trong vài ba năm tới nếu không có các giải pháp chính sách thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng nâng cao sản lượng và chất lượng tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cùng với chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ... thì khó có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Có cảnh báo đó là vì theo ước tính đến hết năm 2008 tỷ trọng nông nghiệp trong GDP vẫn còn 20 6-20 7% trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải giảm còn 15-16%; giá trị công nghiệp năm 2008 mới đạt 40 6-40 7% GDP trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải đạt 43-44%; tỷ trọng thương mại - dịch vụ năm 2008 ước tính có thể đạt 38 7-38 8% GDP trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải là 40-41%.

3. Một số giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010

Trong Báo cáo của Chính phủ trình bày tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá XII (tháng 10-11-2008) đã nêu rõ có nhiều nguyên nhân khiến cho kinh tế nước ta lâm vào tình trạng lạm phát và suy giảm tăng trưởng từ đầu năm 2008 đến nay trong đó có một nguyên nhân cơ bản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH HĐH còn chậm. Vì thế đẩy nhanh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH vẫn được coi là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Cụ thể để phấn đấu đạt được mục tiêu kế hoạch chuyển dịch CCKT đến năm 2010 như Đại hội X đã đề ra cần thực hiện tốt hơn nữa những vấn đề sau đây:

- Tăng mạnh hơn nữa tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH ở nước ta trước hết chính là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp thông qua đó giảm bớt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp tăng khả năng tích luỹ cho dân cư. Đây lại chính là điều kiện để tái đầu tư áp dụng các phương pháp sản xuất công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất trong đó có cả sản xuất nông nghiệp. Kết quả là tất cả các ngành kinh tế đều phát triển nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn biểu hiện là tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP.

- Hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng lợi thế của vùng gắn với nhu cầu của thị trường. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH là quá trình chuyển biến căn bản về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp đặc biệt là tự cung tự cấp về lương thực của từng vùng từng địa phương. Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường thống nhất không chỉ là thị trường cả nước mà còn là thị trường quốc tế trên cơ sở đó xác định những khả năng thế mạnh của mình để tập trung phát triển tham gia vào quá trình phân công và hợp tác lao động có hiệu quả.

- Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH gắn với quá trình hình thành các trung tâm kinh tế thương mại gắn liền với quá trình đô thị hoá. Mặt khác việc quy hoạch xây dựng các khu đô thị trung tâm kinh tế thương mại có ảnh hưởng trực tiếp trở lại tới quá trình chuyển dịch CCKT.

- Giải quyết việc làm giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH là quá trình phân công lao động xã hội là quá trình chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đây là giải pháp vừa cấp bách vừa triệt để để giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH.

- Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH HĐH phải theo định hướng dẫn đến phát triển bền vững không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà phải vì mục tiêu phát triển kinh tế mà bao trùm lên cả là vì mục tiêu phát triển bền vững trong đó có một cấu thành bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu là bảo vệ môi trường. Từ đó cho thấy các nhà lãnh đạo nhà quản lý cho đến các doanh nghiệp các địa phương cơ sở... cần phải hết sức chú ý thực hiện tốt vấn đề này tránh tình trạng vì lợi nhuận kinh tế trước mắt dẫn đến phá huỷ nghiêm trọng môi trường sinh thái tự nhiên như vừa qua và hiện nay công luận vẫn đang tiếp tục lên án về không ít các trường hợp doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật bảo vệ môi trường./.

 

More...

198 Tiểu luận Hai Môn: Triết học _ CNXHKH

By luctranvan

T001 Bản sắc dân tộc trong nền KT mở
T002 Đấu tranh giai cấp
T003 Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCN
T004 LLSX và các quan hệ SX
T005 Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
T006 Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người
T007 Lý luận nhận thức vận dụng quan điểm đó cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nay
T008 Lý luận thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó vào quá trình đổi mới ở VN
T009 Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VN
T010 Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN
T011 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
T012 LLSX QHSX và quy luật SX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX
T013 Cơ sở lý luận về chuyển đổi nền KTTT
T014 Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở VN
T015 Quan hệ lượng - chất nhân - quả và thực trạng của nền KT VN trước xu thế toàn cầu hoá
T016 Con người dưới góc nhìn của triết học và vấn đề con người trong quá trình đổi mới hiện nay
T017 Việc làm thất nghiệp và lạm phát
T018 Vấn đề đổi mới LLSX và QHSX trong quá trình CNH - HĐH ở VN
T019 Tín dụng cơ sở lý luận và thực tiễn tại VN
T020 Nhưng tư tưởng cơ bản của nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nước ta
T021 Sinh viên và thất nghiệp
T022 Tri thức và nền KT tri thức
T023 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
T024 Cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa
T025 Vận dụng lý luận phương thức SX phân tích sự phát triển của nhà máy nước Rạng Đông T026 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
T027 Các phép biện chứng
T028 Phật giáo và ảnh hưởng của nó tới VN
T029 Phật giáo quá trình hình thành và phát triển
T030 KTTT theo định hướng XHCN
T031 Thành tựu và hạn chế của phép duy vật biện chứng
T032 Phân tích thực chất cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa
T033 Giai cấp CN và vai trò của Đảng cộng sản đối với sự phát triển của CNXH
T034 Một số vấn đề thực tiễn và cơ sở lý luận đối với quá trình CNH - HĐH ở VN
T035 Con người và các mối quan hệ
T036 Vai trò của con người trong công cuộc CNH - HĐH đất nước
T037 Ý thức và vai trò của ý thức trong đời sống XH
T038 Văn hoá kinh doanh dưới cái nhìn triết học
T039 Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp VN trong quá trình hội nhập
T040 Vấn đề thất nghiệp của sinh viên
T041 Con người và bản chất
T042 Hình thái KTXH T043 Ý thức tri thức và vai trò
T044 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức T045 Thực trạng giao thông và nguyên nhân
T046 Vật chất và ý thức
T047 CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta
T048 CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta

T049 Mâu thuẫn và vấn đề XD nền KT độc lập tự chủ

T050 Quan điểm toàn diện và vận dụng CNH - HĐH

T051 Quan điểm lịch sử cụ thể đối với quá trình phát triển KT

T052 Quy luật sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập

T053 Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện

T054 Phép biện chứng duy vật và vấn đề phát triển KT

T055 Phật giáo

T056 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

T057 Phật giáo qua các giai đoạn

T058 Địa vị pháp lí của các cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước T059 Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền KTTT

T060 Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN

T061 Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

T062 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và thực tiễn

T063 Thực trạng giao thông nguyên nhân và giải pháp (quan hệ nhân quả) T064 Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng cho sự phát triển KTTT ở nước ta

T065 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

T066 Ô nhiễm môi trường

 T067 Kiến trúc Hà Nội

 T068 CNH - HĐH thực trạng và giải pháp

T069 CNH - HĐH dưới góc nhìn triết học

 T070 Tư duy lí luận

T071 Lý luận về hình thái KT

T072 Lý luận về hình thái KT

T073 CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta

T074 Sự phù hợp của quan hệ SX và sự phát triển của LLSX

T075 Học thuyết về hình thái KTXH

T076 Vai trò của khoa học kĩ thuật đối với sự phát triển của LLSX

T077 Những mâu thuẫn biện chứng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN

T078 Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN

T079 Quan hệ SX phù hợp

T080 Cơ sở lí luận triết học của quá trình CNH - HĐH theo định hướng XHCN ở VN

T081 VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học

T082 Nền KTTT và phạm trù nội dung - hình thức

T083 Thực trạng của vấn đề xe Bus và giải pháp

T084 Nhân tố con người trong sự phát triển LLSX và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

T085 VN trong xu thế hội nhập dưới con mắt triết học

T086 Nguyên lí hình thái kinh tế và ảnh hưởng của nó trong hoạt động ngân hàng

T087 Quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và XH

T088 Cơ sở lí luận khoa học phát triển không ngừng và cách mạng KHCN T089 Phạm trù nội dung - hình thức và sự phát triển thương hiệu

T090 Mối quan hệ giữa cá nhâ và XH

T091 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý

T092 Con người và nhân tố con người trong sự phát triển nền KT tri thức T093 Những nét lịch sử cơ bản của sự hình thành phép biện chứng

T094 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển phép biện chứng duy vật

T095 Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác

T096 Tôn giáo

T097 Sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây

T098 LLSX và QHSX

T099 Mối quan hệ giữa sự phân công lao động XH và XH hoá SX qua một số tác phẩm thời kì đầu của Mác

T100 Mối quan hệ giữa TBCN và người lao động

T101 Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực

T102 Biện chứng của sự phát triển nền KT nhiều thành phần ở VN trong thời kì quá độ lên CNXH

T103 Quan điểm toàn diện trong sự đổi mới nền KT ở VN

T104 Mâu thuẫn biện chứng và sự thống nhất giữa các mặt đối lập

T105 Mối quan hệ biện chứng giữa TLSX và LLSX

T106 Quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX

T107 Quá trình phát triển của phép biện chứng

T108 Phép biện chứng và tư duy biện chứng

T109 Lý luận hình thái KTXH

T110 Phật giáo

T111 Sinh viên và thất nghiệp

T112 Hôn nhân dưới cái nhìn triết học

T113 Hình thái KTXH

T114 Hình thái KTXH

T115 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

T116 Quy luật mâu thuẫn

T117 Lý luận hình thái KTXH

T118 Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng

T119 Quy luật lượng - chất

T120 CNH - HĐH ở VN trong thời kỳ quá độ

T121 CNH - HĐH nông thôn ở nước ta

T122 CNH - HĐH

T123 Đào tạo nguồn lực con người

T124 Hình thái KTXH

T125 Đào tạo nguồn lực con người

T126 Quá trình chuyển đổi sang nền KTTT và sự vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin

T127 Nho giáo

T128 Mối liên hệ biện chứng giữa các thành phần KT

T129 Quan điểm của Mác - Ănghen về vật chất

T130 Nhân cách và nhận thức TL KTCT & CNXH KH

KC001 CNH - HĐH và vai trò của nó trong sự nghiệp XD XHCN ở nước ta KC002 KT nhà nước và cai trò của nó trong nền KTTT theo định hướng XHCN

KC003 Thất nghiệp và việc làm ở VN

KC004 KT tư nhân

KC005 Lý luận chung về phương thức SX (PTSX)

KC006 Phân khúc thị trường trong nền KTTT

KC007 Những vấn đề về KTTT

KC008 Vận dụng quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX

KC009 Phạm trù GTTD (giá trị thặng dư)

KC010 XK thuỷ sản ở VN

KC011 Lãi suất và vai trò của nó trong việc huy động vốn

 KC012 Quá trình hình thành và phát triển nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN

KC013 Cơ sở triết học trong đường lối phát triển nền KTTT ở VN trong thời kỳ quá độ

KC014 Tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng KHCN

KC015 Mối quan hệ biện chứng của LLSX và QHSX

KC016 Tín dụng trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở VN

KC017 Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào phát triển KT VN thời gian qua và giải pháp

KC018 Giải pháp cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ

KC019 Con đường đi lên XHCN của VN

KC020 Phân tích sự đúng đắn của quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX

KC021 Sự điều tiết của nhà nước tư sản hiện đại

KC022 Vai trò của KT nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta

KC023 Một số vấn đề về KTTT định hướng XHCN ở VN

KC024 Thực trạng vai trò của KT TB tư nhân

KC025 Vai trò của nhà nước trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta

KC026 Lợi ích KT và các hình thức phân phối thu nhập ở VN hiện nay KC027 Lý luận địa tô của Mác và sự vận dụng vào chính sách đất đai ở VN hiện nay

KC028 Lý luận về tiền lương của Mác

KC029 Tính chất và vai trò của nhà nước trong quá trình CNH - HĐH ở VN hiện nay

 KC030 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với việc phân tích các mâu thuẫn biện chứng trong nên KTTT của VN

KC031 Thực trạng và giải pháp phát triển DNNN ở VN

KC032 Chuyển dịch cơ cấu nền KT theo hướng CNH - HĐH

KC033 Tính tất yếu khách quan và con đường hình thành cty mẹ - cty con ở VN

KC034 Sự cần thiết khách quan của việc phát triển nền KTTT có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN

KC035 Sự ảnh hưởng của vấn đề dân số đến phát triển KT ở nước ta

KC036 Những vấn đề cơ bản trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước

KC037 Lạm phát và tăng trưởng KT

KC038 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ở một số nước và vận dụng vào VN

KC039 Nghệ thuật tiêu thụ XBP

KC040 Mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần KT ở nước ta hiện nay KC041 Con đường quá độ lên XHCN của VN

KC042 Hình thái KTXH

 KC043 Lý luận hình thái KTXH

KC044 Mô hình cty mẹ - cty con

KC045 LLSX và QHSX

KC046 ASEAN

KC047 Quản lý tri thức

KC048 Những vấn đề lý luận về lạm phát

KC049 Sự phát triển của các hình thái kinh tế

KC050 Chính sách tỷ giá hối đoái và vấn đề tự do tỷ giá ở VN

 KC051 Các chính sách KTXH

KC052 Kinh tế VN trong thời kỳ hội nhập

KC053 Kinh tế nhà nước

KC054 Lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển TB

KC055 Lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển TB

KC056 Nguồn gốc và bản chất lợi nhuận

KC057 Lợi nhuận

KC058 Lợi nhuận

KC059 Đầu tư nước ngoài

KC060 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

KC061 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

KC062 CNH - HĐH

KC063 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn KC064 CNH - HĐH

KC065 CNH - HĐH nền KTQD

KC066 Cơ hội và thách thức đối với các DN VN trong thời kỳ hội nhập KC067 Cổ phần hoá DN

KC068 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng KC069 Bản chất và vai trò của cty đa quốc gia

KC070 Kinh tế nhà nước

KC071 Cơ cấu KT nhiều thành phần

KC072 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

KC073 Đa dạng hoá các loại hình sở hữu trong nền KT

KC074 Đa dạng hoá các loại hình sở hữu trong nền KT

KC075 Mô hình cty mẹ - cty con

KC076 Cty cổ phần KC077 Hình thái KTXH

KC078 Tính quy luật của sự hình thành KTTT

KC079 Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

 KC080 Sự hình thành nền KTTT

KC081 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) KC082 Phân phối trong nền KTTT

KC083 Lý luận địa tô của Mác và sự vận dụng vào chính sách đất đai ở VN hiện nay

KC084 Đổi mới chính sách KT đối với các DN vừa và nhỏ

KC085 Cơ cấu KT nhiều thành phần

KC086 LLSX và QHSX

KC087 LLSX và QHSX

KC088 Hàng giả KC089 Nền KTHH nhiều thành phần

KC090 Hàng hoá sức lao động

KC091 Vai trò của nhà nước trong nền KTTT

KC092 Hình thái KTXH

KC093 Hình thái KTXH

KC094 Hình thái KTXH

KC095 Hình thái KTXH

KC096 Quy luật giá trị

KC097 Hình thái KTXH

KC098 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

KC099 CNH - HĐH KC100 KHCN

KC101 Vốn và các giải pháp huy động vốn KC102 KHCN

KC103 KTNN (KT nhà nước)

KC104 Vai trò của nền KTNN

KC105 Tư tưởng đức trị của Khổng Tử và vận dụng vào quản lý doanh nghiệp KC

106 KTHH

KC107 KTHH nhiều thành phần

KC108 Vai trò của KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta KC109 Vai trò của KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta KC110 KT TB tư nhân

KC111 Các hình thức tiền lương

KC112 KTTT

KC113 Học thuyết giá trị thặng dư (GTTD)

KC114 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

 KC115 KTTT định hướng XHCN

KC116 KT trang trại nông nghiệp

KC117 Hình thái KTXH KC

118 KTTT định hướng XHCN

KC119 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

KC120 Phạm trù GTTD (giá trị thặng dư)

KC121 Buôn lậu và gian lân thương mại

KC122 KTTT định hướng XHCN

KC123 Vai trò của nhà nước trong nền KTTT

KC124 Một số biện pháp đầy mạnh quá trình cổ phần hoá DNNN

 KC125 Vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

KC126 KTTT định hướng XHCN

KC127 CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn

KC128 Cổ phần hoá DN KC

129 Phát triển đồng bộ các thị trường trong nền KTTT định hướng XHCN KC130 Cổ phần hoá DN

KC131 Giải pháp nâng cao hiệu quả KTXH

KC132 Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền KT

KC133 Máy móc và lao động trong SX GTTD

KC134 Phạm trù GTTD (giá trị thặng dư)

KC135 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

KC136 Lý luận chung về thị trường

KC137 Cơ hội và thách thức đối với VN khi gia nhập WTO

KC138 Cạnh tranh trong nền KTTT

KC139 Lợi nhuận

KC140 Vai trò của KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta KC141 KTTT định hướng XHCN

KC142 Phân tích LLSX trước ba PTSX trước CNTB

KC143 Tham nhũng

KC144 Cổ phần hoá DN

KC145 Cổ phần hoá DN

KC146 Thị trường

KC147 Quan hệ phân phối thu nhập

KC148 Thực trạng và một số giải pháp phát triển khu vực KT tư nhân KC149 Cty cổ phần

 KC150 Phạm trù GTTD (giá trị thặng dư)

KC151 Hội nhập KT quốc tế và các thách thức

KC152 Hội nhập KT quốc tế và các thách thức

KC153 Thực trạng và một số giải pháp phát triển khu vực KT tư nhân KC154 Sở hữu tư nhân

KC155 CNH - HĐH

KC156 Phạm trù GTTD (giá trị thặng dư)

KC157 Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX

KC158 XHCN và thời kỳ quá độ lên CNXH

KC159 KTNN (KT nhà nước)

KC160 Lợi nhuận

KC161 KTNN (KT nhà nước)

KC162 Hình thái KTXH

KC163 KTTT và sự phân hoá giàu nghèo

KC164 Lạm phát KC165 KTTT

KC166 Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu

KC167 Lợi nhuận

KC168 Hoàn cảnh tiến hành cải cách ở TQ và VN

KC169 Doanh nghiệp và người lao động

KC170 KTTT

KC171 Nâng cao khả năng hội nhập cho nền KT VN

KC172 KTTT định hướng XHCN và những mâu thuẫn của nó

KC173 Quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay

KC174 KTTT

KC175 Mối QH biện chứng giữa các thành phần KT

KC176 Thực trạng và giải pháp phát triển DNNN ở VN

KC177 Nền KTHH nhiều thành phần

KC178 KTTT

KC179 Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

KC180 Nguyên nhân suy thoái KT Nhật những năm 90

KC181 Giá trị sức lao động

KC182 Cổ phần hoá DN

KC183 QH phân phối

KC184 Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử

KC185 QH phân phối

KC186 LLSX và QHSX

KC187 Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX

KC188 LLSX và QHSX

 KC189 LLSX và QHSX

 KC190 Duy vật lịch sử và GTTD

KC191 Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX

KC192 Quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của LLSX và sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu

KC193 Yếu tố con người trong công tác quản lý

KC194 Quản lý nhà nước về KT

KC195 Chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát

KC196 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

 KC197 Cơ chế thị trường và nền KTTT

KC198 KC199 Quy luật giá trị

Download 198 tiểu kuận KTCT - CNXH KH : 

http://www.mediafire.com/file/ggxndhyk4i1/KTCT_CNXHKH-www.bka.vn.zip

 Hoặc: http://luctranvan.blogtiengviet.net/2009/10/26/p769965#more769965

Các bạn vui lòng copy đường link này Past vào trình duyệt Web Enter rồi sẽ tãi được tài liệu này về ứng dụng ngay.

 

 

 

 

More...

Kinh tế chính trị phần 2_3_4

By luctranvan


PHẦN II:

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA

1/ Chỉ có CNH mới có thể xây dựng cơ sở vật chất cho thời đại mới

   "Công nghiệp hoá hiện đại hoá là còn đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước chung quanh giữ ổn định chính trị xã hội bảo vệ độc lập chủ quyền và phát triển xã hội chủ nghĩa".

   Cơ sở vật chất - kĩ thuật của mỗi phương thức sản xuất xã hội là tổng thể hưu cơ các yếu tố vật chát của lực lượng sản xuất đạt được trong điều kiện nhất định của tiến bộ khoa học và công nghệ dựa trên đó lực lượng lao động xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chát để thoả mãn nhu cầu của xã hội. Trong lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã hội bao giờ phương thức sản xuất sau cũng kế thừa cơ sở vật c hất của phương thức sản xuất trước nó từ đó cải tạo phát triển và hoàn thiện thành cơ sở vật chất - kĩ thuật cho bản than mình . Ở những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản thì cách mạng vô sản thành công chủ nghĩa xã hội ra dời và phát triển trên cơ sở kế thừa cơ sảo vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản không phải tiến hành công nghiệp hoá.

   Những nước đó khi bước vào thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hộ chỉ cần điểu chỉnh bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật đã đạt được theo yêu cuầ của chế độ mới  và tiếp tục ứng dụng những công nghệ mới nhất hiện đại nhất

   Các nước có nền kinh tế phát trineern chưa cao và các nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất nhỏ còn phổ bieetsn tiến lên chủ nghĩa xa hộ thì nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa để xây dựng cơ sở vật chat kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội  nhằm thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hoá và một phần tự động hoá (khi có điều kiên) trong các ngành của nền kinh tế quốc dân; đồng thời trên cơ sở trình độ đã đạt được của cơ sở vật chất kĩ thuật mớ mà cỉa biết cơ cấu kinh tế lạc hậu què quặt thúc đảy quá trình phân công lao động xã hội mở rộng thị trường phát triển sản xuất và lưu thong hàn hoá trong nước và quốc tế.

2/  Công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo ra lực lượng sản xuất mới về chất tạo tiền đề cho sự hình thành nhiều mối quan hệ mới về kinh te3es xã hội chính trị trong toàn xã hội. Trên cơ sở lục lượng sản xuất phát triển quan hệ sản xuất xã hộ chủ nghĩa sẽ từng bước dduocj hình thành mở rộng và củng cố đời sống của nhan dân sẽ dần dần được cải thiện liên minh công - nông - trí thức và chính quyền nhà nước sẽ được củng cố và kiện toàn cách mạng tư tưởng văn sẽ có điều kiện thực hiện; giai cấp công nhân được trưởng thành về số lượng và chất lượng. Sự giúp đỡ của công nghiệp và thành thị đối với nông nghiệp và nông thôn được tăng cường và có hiệu quả hơn; tạo ra nhiều điều kiện để thực hiện tường bước sự bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc giữa các tần lớp dân cư giữa cá vùng trong nước. Diều đó đưa đến sự thong nhất ngày càng cao về chính trị và tinh thần xã hội.

3/  Công nghiệp hoá hiện đại hoá còn đáp ứng yêu cầu khách quan của việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng sự thống nhát giữa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo điều kiện thuận lới cho mở rộng kinh tế quốc tế.

4/  Một số ví dụ thực tiễn cho thấy nhiệm vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiệm vụ cập bách trong thời kì hiện nay :

- Từ tháng 10 - 2006 đến tháng 6 - 2007 có 958667 bao cà phê Việt Nam (khoảng 74% cà phê xuất khẩu) bị loại khỏi thị trường NewYork.

   Nguyên nhân : nông dân của ta thu hoạch cà phê khi còn xanh thiếu sân phơi và máy móc hiện đại để sơ chế trước khi mang đi chế biến và xuất khẩu.

-  Giá gạo xuất khẩu :

     7/1                                           4/2

Thái Lan 5% tấm            365-370USD/1tấn        410-425 USD/1tấn 

Việt Nam 5% tấm           355 USD/1tấn              400 USD/1tấn 

   Như vậy trung bình giá gạo của Việt Nam rẻ hơn 10-25 USD/1tấn  so với giá gạo Thái Lan do chất lượng gạo của ta kém hơn.

   Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hoá hiện đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại có cơ cấu kinh tế hợp lí quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Như vây công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế thực chất là một cuộc cải biến cách mạng sâu sắc và toàn diện trước hết và chủ yếu là từ phát triển lực lượng sản xuất dẫn tới một loạt hệ quả tất yếu tác động tích cực đến các mặt của đời sống xã hội hình thành những yếu tố của hình thái xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiêm vụ trung tâm trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và là một trong những nhiệm vụ quan trọn nhất trong sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

   Nhiều người quan niệm thất bại của công nghiệp hoá gắn liền với kế hoạch hoá tập trung - phi thị trường. Thực ra đó chưa phải là cốt lõi. Điểm cốt lõi chính sự lạc hậu so với trình độ thế giới.

Một là mục tiêu công nghiệp hoá XHCN là biến nền sản xuất thủ công thành nền đại công nghiệp cơ khí thay lao động năng suất thấp bằng lao động sử dụng máy móc. Ngay cả khi nhấn mạnh "thực chất của công nghiệp hoá XHCN là tiến hành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật" thực chất cũng chưa rõ ràng về mối quan hệ giữa cuộc cách mạnh kỹ thuật hiện tại ở Việt Nam với cuộc cách mạnh KH&CN đang diễn ra trên thế giới.

Hai là quá đề cao yêu cầu cân đối trong nước. Đã có quan niệm cho rằng công nghiệp hoá XHCN phải nhằm xây dựng một nền sản xuất lớn có cơ cấu kinh tế hợp lý trong đó thể hiện quan hệ qua lại giữa ba ngành kinh tế cơ bản: Công nghiệp nặng nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; thể hiện mối quan hệ giữa hai khu vực kinh tế: Kinh tế trung ương và kinh tế địa phương. Tương tự phân công lại lao động trong quá trình công nghiệp hoá chỉ giới hạn trong phạm vi nền kinh tế nội địa.

Ba là thiếu sự hợp tác với lực lượng kinh tế hùng mạnh trên thế giới. Hợp tác quốc tế phục vụ công nghiệp hoá XHCN diễn ra trong nội bộ các nước XHCN mà Việt Nam là một thành viên. Trong khi đó "phía bên kia" lại nắm giữ phần lớn đỉnh cao khoa học và công nghệ. Dù cho hoàn cảnh khách quan (chiến tranh lạnh) hay nhận thức chủ quan (đánh giá sai sức sống của chủ nghĩa tư bản) thì điều chung quy vẫn là không tranh thủ được thành tựu tiên tiến của loài người do đó khó thoát khỏi lạc hậu.

Ba sự kiện công nghiệp hoá diễn ra trong lịch sử dân tộc chưa hoàn toàn thuộc về quá khứ. Kinh nghiệm của thế giới là rất cần thiết cho Việt Nam nhưng trước tiên chúng ta nên biết khai thác kinh nghiệm của chính mình.

Công nghiệp hoá là con đường tất yếu mà dân tộc Việt Nam phải trải qua để tiến lên. Trong quá khứ trước mỗi bất hạnh đều có sự trỗi dậy của nguyện vọng công nghiệp hoá. Hiện nay trước nguy cơ tụt hậu của đất nước nhấn mạnh vấn đề công nghiệp hoá là hoàn toàn phù hợp và rất dễ được cả dân tộc chấp nhận.

Tiến hành công nghiệp hoá cần những điều kiện về xã hội quyền tự chủ dân tộc tri thức về thành tựu nhân loại bối cảnh quốc tế. Thiếu bất cứ một điều kiện nào cũng đủ ngăn cản ý đồ công nghiệp hoá trở thành hiện thực. Hiện nay chúng ta có một chính quyền cầu thị khác hẳn thời kỳ cuối thế kỷ XIX; có chủ quyền quốc gia và tự chủ dân tộc khác hẳn thời kỳ Pháp thuộc; có bối cảnh quốc tế thuận lợi hơn thời kỳ chiến tranh lạnh; có nhận thức mới về thời đại hơn các nhà duy tân cuối thế kỷ XIX và thời kỳ tập trung quan liêu;... Đây là những điều kiện thuận lợi cần khai thác và phát huy.

Có cái chung và cái riêng trong công nghiệp hoá. Cái chung là xoá bỏ nghèo nàn tụt hậu và đưa nền kinh tế đạt tới các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tiên tiến của thời đại. Cái riêng là do hoàn cảnh bên trong mỗi dân tộc chấp nhận và sáng tạo các con đường phát triển khác nhau. Thất bại của các nhà duy tân cuối thế kỷ XIX có một phần bởi chủ trương tuyệt đối đi theo con đường phương Tây bỏ qua tâm lý dân tộc. Thất bại của công nghiệp hoá mới đây có phần do chủ quan duy ý chí coi nhẹ các điều kiện bên trong.

Những bài học bên ngoài và bên trong về công nghiệp hoá về phát triển nhảy vọt rất đáng được chúng ta quan tâm trong chặng đường phát triển sắp tới của dân tộc Việt Nam.

 

 



 

 PHẦN III

TÁC DỤNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA

 

 

   Từ thập niên 60 của thế kỷ XX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã chứng minh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa sẽ có những tác dụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đó là:

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

   Công nghiệp hoá hiện đại hóa là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất - kỹ thuật cần thiết về con người và khoa học - công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng suất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất nhờ đó mà nâng cao vai trò của người lao động - nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển thúc đẩy quá trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng các miền trở nên thống nhất cao hơn

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng - an ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá kinh tế xã hội.

- Công nghiệp hoá hiện đại hóa tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế - chính trị văn hoá - xã hội quốc phòng và an ninh. Thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà công nghiệp hoá kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

   Trong quá trình cnh-hdh  ở nước ta thì cnh-hdh nông nghiệp nông thôn giữ vai trò rất quan trọng ta cùng điểm qua một số thành tựu mà khu vực này đã đạt được sau khi tiến hành cnh:

   Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị trường và có giá trị kinh tế cao. Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc gia tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha) để chuyển sang nuôi trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 34 5 triệu tấn (năm 2000) lên 39 12 triệu tấn (năm 2004) trong đó sản lượng lúa tăng từ 32 5 lên 35 8 triệu tấn bình quân mỗi năm lương thực tăng hơn một triệu tấn. Hàng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3 5-4 triệu tấn gạo.

   Sản xuất cây công nghiệp cây ăn quả có sự điều chỉnh mạnh theo nhu cầu thị trường để xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp bảo quản chế biến. Diện tích sản lượng cây công nghiệp tăng nhanh so với năm 2000 cao-su diện tích tăng 9 5% sản lượng tăng 37 6%; hồ tiêu diện tích tăng 83 2% sản lượng tăng 87 8%; hạt điều diện tích tăng 44 3% sản lượng tăng 205 3%; chè diện tích tăng 35 3% sản lượng tăng 54 9%; diện  tích cây ăn quả tăng 1 4 lần; bông vải diện tích tăng 42 5% sản lượng tăng 57 4%; đậu tương diện tích tăng 47 1% sản lượng tăng 62 2%. Các  loại cây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.

   Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 19 3% lên 21 6%. Ðàn bò nhất là bò sữa tăng nhanh đạt 95 nghìn con sản lượng sữa tươi tăng gấp 3 lần. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng 2 0 lần sản lượng khai thác tăng 1 2 lần.

   Công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và ngành nghề nông thôn: Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn tăng bình quân 15%/năm. Hiện cả nước có 2.971 làng nghề khoảng 1 35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn với khoảng 1 4 triệu hộ thu hút hơn 10 triệu lao động (trong đó có khoảng 1 5 triệu người làm hàng mỹ nghệ).

   Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mức cao (5 4%/năm chỉ tiêu Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đề ra là 4 8%/năm). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2004 đạt gần 7 tỷ USD tăng 1 5 lần so với năm 2000 trong đó nông lâm sản tăng gần 1 5 lần thủy sản tăng 1 6 lần. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng và giá trị lớn như: gạo cà-phê cao-su hạt điều. Ðặc biệt xuất khẩu đồ gỗ gia dụng và lâm sản tăng mạnh đạt hơn 1 2 tỷ USD tăng gấp 3 3 lần so với năm 2000.

   Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDP của cả nước tỷ trọng nông lâm nghiệp thủy sản đã giảm từ 24 53% xuống 21 76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59 04% xuống 57 9% lao động công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17% dịch vụ chiếm 25 1%. Năm 2003 hộ thuần nông đã giảm còn 68 8% hộ kiêm nghề tăng lên chiếm 12 7% và phi nông nghiệp 18 4%. Nguồn thu của hộ nông dân từ nông lâm ngư nghiệp chiếm 77 5%; công nghiệp xây dựng và dịch vụ nông thôn đã dần tăng lên chiếm 22 5% tổng thu.

   Trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới công nghệ sinh học phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất chất lượng nông sản thủy sản. Ðến nay có hơn 90% diện tích lúa 80% diện tích ngô 60% diện tích mía 100% diện tích điều trồng mới... được sử dụng giống mới. Công nghệ sử dụng mô hom được đưa nhanh vào sản xuất giống cây rừng nên năng suất chất lượng rừng được cải thiện. Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa như: tưới nước tuốt lúa xay xát đạt hơn 80% vận chuyển làm đất đạt hơn 60%. Trong ngành thủy sản tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt hơn 4 triệu sức ngựa một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng tiên tiến.

   Quan hệ sản xuất được xây dựng ngày càng phù hợp. Cả nước hiện có 72 nghìn trang trại tăng bình quân 10%/năm kinh tế trang trại đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thành lập mới được 524 hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu hoạt động theo hướng dịch vụ tiêu thụ sản phẩm hiện có hơn 10 nghìn hợp tác xã ở nông thôn (9.255 HTX nông nghiệp hơn 500 HTX thủy sản 800 quỹ tín dụng nhân dân...) và hàng trăm nghìn tổ kinh tế hợp tác so với năm 2000 số hợp tác xã hoạt động có lãi tăng từ 32% lên 35% số HTX yếu kém giảm từ 22% xuống còn khoảng 10%.

   Doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh năm 2004 có 15.600 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động trên địa bàn nông thôn bình quân một doanh nghiệp thu hút khoảng 20 lao động đang là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn.

   Nông thôn có bước phát triển khá nhanh. Nhiều công trình thủy lợi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất thâm canh tăng năng suất cây trồng đã bảo đảm tưới cho 90% diện tích lúa hàng vạn ha hoa màu cây công nghiệp và cây ăn quả; hệ thống đê điều được củng cố. Ðến nay đã có 98% số xã có đường ô-tô tới khu trung tâm hơn 90% số xã có điện gần 88% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện. Số thuê bao điện thoại ở khu vực nông thôn tăng nhanh đạt 4 máy/100 người dân (cả nước là 12 56 máy/100 người dân); 58% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch; xây mới 501 chợ góp phần giảm bớt khó khăn về tiêu thụ nông sản cho nông dân.

   Công tác xóa đói giảm nghèo: Bình quân mỗi năm giảm 3% tỷ lệ hộ đói nghèo. Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn giảm từ 19% năm 2000 xuống còn 11% năm 2004. Ðiều kiện về nhà ở đi lại học tập chữa bệnh được cải thiện tốt hơn. Nhiều làng xã đã trở thành làng văn hóa có kinh tế phát triển bảo đảm môi trường sinh thái văn hóa truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc được phục hồi và phát triển trình độ dân trí được nâng lên.

 


 PHẦN IV:

VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

1/ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA:

 

A / THUẬN LỢI:

 

- Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới thế và lực kinh tế của nước ta đã thay đổi mạnh mẽ thể hiện ở những cái "mới" như:

+ Cấu trúc kinh tế mới: Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hóa tập trung nền kinh tế nhiều thành phần mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế vai trò và chức năng mới của Nhà nước xã hội năng động hơn các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế- xã hội được kết nối chặt chẽ hơn.

+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ khá cao liên tục trong nhiều năm với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ

+ Thế phát triển mới: Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng đã gia nhập ASEAN ASEM APEC ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và đang nỗ lực gia nhập WTO v.v.

+ Động lực mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới mạnh mẽ: cạnh tranh thị trường sự mở rộng các cơ hội sức mạnh của tinh thần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển.

+ Lực lượng- chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển (Nhà nước nhân dân doanh gia đội ngũ trí thức và quản trị) được nâng cao. Các yếu tố bên ngoài (vốn công nghệ- kỹ thuật tri thức thị trường...trở thành lực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng

- Thứ hai: Bối cảnh quốc tế với những xu hướng ưu trội bao gồm (i) toàn cầu hoá kinh tế (ii) phát triển kinh tế tri thức và (iii) hoà bình ổn định và hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho quá trình CNH HĐH ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó Việt Nam đã và đang theo đuổi thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốcf tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN bảo vệ lợi ích dân tộc an ninh quốc gia giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc bảo vệ môi trường. Việc tham gia vào các quá trình liên doanh liên kết hợp tác song phương và đa phương hợp tác khu vực và quốc tế của nước ta góp phần phát huy hữu hiệu lợi thế so sánh của đất nước thu hút được những nguồn lực dồi dào về vốn công nghệ tri thức kỹ năng ... của thế giới cho công cuộc CNH HĐH. Bên cạnh đó việc tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh những cải cách trong nước theo hướng hiện đại phù hợp với khuân khổ chung của quốc tế. - Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế của "nước đi sau". Bên cạnh việc thu hút những nguồn lực vật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên các nước đi sau như Việt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về CNH HĐH của các nước đi trước. Với những kinh nghiệm đổi mới của chính bản thân mình Việt Nam có điều kiện để học hỏi và sáng tạo liên quan đến nhiều khía cạnh của CNH HĐH. Một lợi thế nữa của nước đi sau là nền kinh tế nước ta dễ chuyển đổi cơ cấu vì không lệ thuộc nhiều vào những cơ sở vật chất đã có (các phí tổn không phải là quá lớn khi thay đổi những cái cũ cần thay đổi). Điều này tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các định hướng cơ cấu đã chọn lựa bao gồm cả cơ cấu ngành cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế

- Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm vùng kinh tế năng động Đông Nam Á thuận lợi cho việc giao lưu và hội nhập quốc tế. Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng. Đặc biệt nước ta có lực lượng lao động dồi dào cơ cấu trẻ và giá nhân công thấp năng lực trí tuệ con người Việt Nam không thua kém các nước tiếp thu nhanh các tri thức mới dễ đào tạo có khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nền tảng cho sự phát triển các khả năng sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế đồng thời tạo điều kiện thuận lợi đểphát triển những ngành những lĩnh vực hiện đại có thể theo hướng rút ngắn

b/ KHÓ KHĂN:         

- Nền kinh tế nước ta vẫn còn rất lạc hậu. CNNT chưa thực sự được thúc đẩy nhằm đóng vai trò nòng cốt cho sự phát triển nông thôn sau nhiều chủ trương CNH nông thôn nước ta vẫn mang tính "thuần nông ". Sự hiện diện của hệ thống các quan hệ kinh tế "nông dân - cổ truyền " trong đời sống xã hội.

- Di sản của cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại khá nặng: nhà nước bao cấp tư duy bao cấp chức năng bao cấp trách nhiệm đối với các doanh nghiệp nhà nước; đối với đời sống của những cá nhân thuộc khu vực nhà nước ôm đồm về chức năng trong lĩnh vực kinh tế.

- Những hệ quả của trạng thái bao cấp và tư duy bao cấp

             - Sự khác biệt và chênh lệch về trình độ thể chế và trình độ cơ cấu (kinh tế-văn hoá-xã hội) so với quốc tế.

             - Năng lực cạnh tranh thấp và chưa có triển vọng cải thiện nhanh phản ánh tập trung nhất tình thế xuất phát khó khăn của nền kinh tế nước ta hiện nay do:

    (i) Tiềm lực kinh tế nhỏ bé và khả năng tích luỹ nội bộ thấp.

    (ii) Trình độ KH&CN nói chung thấp hơn hẳn so với đa số các nền kinh tế khác trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù nguồn nhân lực nước ta có tiềm năng trí tuệ không nhỏ song trên thực tế chúng ta còn rất lung túng trong việc hình thành và triển khai một chiến lược manh tính đón đầu trong việc nâng cao trìnhđộ KH&CN của đất nước.

    Khai thác lợi thế lao động kém hiệu quả chưa dành những ưu tiên rõ cho phát triển những ngành những lĩnh vực kinh tế (tư nhân HTX) tạo nhiều việc làm. Chiến lược đầu tư vào con người chưa ngang tầm với đòi hỏi phát triển hiện nay.

Nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa hàng đầu là trọng tâm của chiến lược phát triển. Trong khung cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế đang ngày càng đẩy mạnh khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ quyết định khả năng có thể đạt được đến mức nào các mục tiêu CNH HĐH đất nước đề ra vào năm 2020.

    (iiii) Chưa thực sự sẵn sàng hội nhập các điều kiện cần thiết cho hội nhập quốc tế chưa được chuẩn bị khẩn trương

 

2/ NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:

   (i) Đầu tiên là vốn.

Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Cống nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta hiện nay đòi hỏi phải có nhiều vốn trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo.

  Vốn trong nước bao gồm các tài nguyên thiên nhiên các tài sản được tích luỹ qua nhiều thế hệ vị trí địa lý... Việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở hiệu quả sản xuất nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước.

  Vốn ngoài nước bao gồn các khoản đầu tư trực tiếp vốn viện trợ các khoản vốn vay tín dụng... Biện pháp cơ bản để thu hút được nguồn vốn ngoài nước là đẩy mạnh mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà kinh doanh nước ngoài. Hiện nay ở nước ta nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp nên phải tận dụng các nguồn vốn bên ngoài. Tuy nhiên việc tạo nguồn vốn cần phải gắn chặt với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.

   (ii) Thứ hai là nguồn nhân lực.

Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá là sự nghiệp cách mạng của quần chúng mà trong đó lực lượng cán bộ khoa học công nghệ và các công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Do đó trong quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi phải có đầy đủ nguồn nhân lực về số lượng đảm bảo về chất lượng và có trình độ cao.

  Chính vì vậy phải coi trọng việc đầu tư cho giáo dục đào tạo là một trong những hướng đi chính cho đầu tư phát triển; giáo dục đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Phải có quy hoạch kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nguồn nhân lực đồng thời phải sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo. Phải phát huy tiềm lực của mỗi người để góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá.

   (iii) Tiền đề thứ ba là khoa học công nghệ.

  Khoa học công nghệ được xác định là động lực của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nó quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng.

  Nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực về khoa học công nghệ còn yếu. Do đó muốn thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công với tốc độ nhanh nhiệm vụ trước mắt cần được giải quyết là

- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học nắm bắt các công nghệ cao cùng những thành tựu mới về khoa học của thế giới; hướng mạnh vào việc nâng cao năng suất lao động đổi mới sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.

- Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến bao gồm đẩy mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ có cơ chế chính sách tạo động lực cho sự phát triển khoa học công nghệ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ.

   (iiii) Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại cũng là một tiền đề cho công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.

  Cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nước. Vì thế mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan tạo ra khả năng và điều kiện để các nước đang phát triển có thể tranh thủ vốn kỹ thuật công nghệ... từ bên ngoài để đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

  Tuy nhiên để việc trên trở thành hiện thực chúng ta cần phải có một đường lối kinh tế đúng đắn vừa có hiệu quả kinh tế cao kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vừa giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Cuối cùng là sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

   Đây là tiền đề quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta. Công nghiệp hoá hiện địa hoá là một cuộc đấu tranh gian khổ phức tạp. Đây là sự nghiệp của toàn dân nhưng cần có Đảng tiên phong dày dạn kinh nghiệm tự đổi mới không ngừng lãnh đạo và một Nhà nước của dân do dân vì dân trong sạch vững mạnh và có hiệu lực quản lý thì công nghiệp hoá hiện đại hoá mới có thể hoàn thành tốt đẹp.

 



More...