Câu 08: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

By luctranvan

 

Câu 08

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước

Nguồn nhân lực

Trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định.

Tuy nhiên vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đặt ra hiện nay và cả tương lai. Nghị quyết Đại hội lần thứ 10 của Đảng nhấn mạnh: Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Bác Hồ từng dạy: con người nếu chỉ có phẩm chất đạo đức tốt bản lĩnh chính trị vững vàng mà thiếu tri thức kiến thức khoa học tức có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên toà sen không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích cho đời. Tri thức trí tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người bởi vì tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ - tức là phải thông qua trí tuệ. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người.

Năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật công nghệ tiên tiến sự nhạy bén thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật - công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp nghĩa là kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp ... Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của đội ngũ lao động nhằm đạt được năng suất hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần.

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hoá hội nhập quốc tế là hành động chủ quan có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc. Trong điều kiện như vậy người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng ý thức dân tộc cao còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi ít ra là của khu vực. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực lượng nòng cốt lực lượng dẫn đầu và nhân tài.

Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài. Do đó họ phải có một trình độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến. Hơn thế nữa với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực tiếp người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức.

Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ quản lý kinh tế - xã hội văn hoá - văn nghệ ... Họ phải thành thạo chuyên môn nghề nghiệp có năng lực tiếp thu chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại những tinh hoa của văn hoá văn minh thế giới những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt Nam. Đồng thời họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.

Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu thiết kế tham mưu sáng tác; thực hiện thi hành ứng dụng phát triển; giáo dục đào tạo bồi dưỡng huấn luyện; quản lý chỉ huy lãnh đạo chỉ đạo... Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động. Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao có năng lực khai phá những con đường mới mẻ trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá. Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết phải đông nhưng thực sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn tiêu biểu cho tinh thần trí tuệ của dân tộc.

Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ. Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mọi người lao động dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Hơn nữa cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh niềm tin và ý chí khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt.

Nền sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt năng lực cần thiết như: có kỷ luật tự giác biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bị máy móc phương tiện sản xuất có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp lương tâm nghề nghiệp ... nghĩa là phải có văn hoá lao động công nghiệp. Một trong những phẩm chất quan trọng nhất của văn hoá lao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm.

 Giờ đây nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường đòi hỏi phải thay đổi kiểu quan hệ đó tức là người tiêu dùng chứ không phải người sản xuất qui định mặt hàng và chất lượng hàng hoá còn người sản xuất phải đáp ứng nhu cầu đó. Trong nền kinh tế thị trường việc sản xuất hàng hoá chất lượng cao với giá cả hợp lý cũng đáp ứng lợi ích của chính người sản xuất. Tuy nhiên cũng chính trong nền kinh tế thị trường dưới áp lực của lợi nhuận của động cơ kiếm tiền bằng mọi cách đã xuất hiện một hiện tượng tiêu cực mới đó là nạn làm hàng giả.

Tình trạng lẫn lộn trắng đen thật giả trong thị trường hàng hoá ngày một tăng đã tác động hết sức xấu đến quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta. Trong khi chưa hạn chế tiến tới chấm dứt nạn làm hàng giả thì chưa thể nói đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh lành mạnh. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế phải có văn hoá lao động vì chỉ có như vậy mới đáp ứng được lợi ích lâu dài của họ cả với tư cách là người sản xuất và người tiêu dùng nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá còn đụng chạm đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Nó đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc bảo vệ cải thiện môi trường sinh thái vì sự phát triển bền vững nói một cách ngắn gọn là phải có văn hoá sinh thái. Đây là vấn đề cấp bách sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia - dân tộc mà còn đối với nền văn minh nhân loại. Vì vậy bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân bao gồm mọi lứa tuổi song đối với người lao động trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá phải được nâng lên thành văn hoá sinh thái. Khái niệm "văn hoá sinh thái" bao gồm cả quan điểm nhận thức thái độ hành vi lối sống cách ứng xử đúng đắn của người lao động đối với tự nhiên; cả việc phòng ngừa ngăn chặn xử lý hậu quả của sản xuất công nghiệp gây ra; cải thiện môi trường bảo tồn thiên nhiên thích nghi với tự nhiên và đấu tranh chống lại việc tàn phá tự nhiên.

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại giữa dân tộc và thời đại. Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng tình cảm những tập quán thói quen những phong tục lối sống cách ứng xử ý chí v.v. của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại và ở mức độ nhất định có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của tương lai. Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền thống vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn đồng thời tiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để vượt lên để hội nhập để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai chỉ là sự tụt hậu.

Nguồn nhân lực chất lượng cao của thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá phải là "những con người phát triển cả về trí lực và thể lực cả về khả năng lao động về tính tích cực chính trị - xã hội về đạo đức tình cảm trong sáng". Việc xác lập các chuẩn mực định hướng các giá trị xã hội để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết. Chìa khóa vạn năng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phải nâng cao giáo dục toàn diện đổi mới cơ cấu tổ chức cơ chế quản lý nội dung phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hóa hiện đại hóa xã hội hóa" chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

 

 

More...

Câu 10: Đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

By luctranvan

Câu 10

Đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

(ĐCSVN) - Thủ tướng Chính phủ vừa ký  Quyết định số 1715/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 phê duyệt Đề án đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu và điều chỉnh quản lý hoạt động nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện cam kết gia nhập WTO có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Theo đó quan điểm của Đề án này là đổi mới quản lý đối với các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết gia nhập WTO về doanh nghiệp nhà nước; Đảm bảo tính thống nhất đồng bộ giữa nội dung quản lý nhà nước với tổ chức bộ máy thực hiện giữa quy định pháp luật và triển khai thực hiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp; Thống nhất sử dụng các công cụ quản lý trong quản lý nhà nước đối với các hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp; Đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp khi điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp nhà nước doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp khu vực tư nhân khác trong kinh tế thị trường; Tách bạch quản lý nhà nước với quản lý của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước cả về nội dung phương thức quản lý tổ chức bộ máy và triển khai thực hiện.

Cụ thể các giải pháp chủ yếu để thực hiện Đề án gồm: Thu hẹp sự khác biệt và tiến tới thống nhất điều kiện kinh doanh đối với các hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp thu hẹp lĩnh vực độc quyền nhà nước thương mại nhà nước và đặc quyền của doanh nghiệp nhà nước.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bình đẳng và không phân biệt hình thức sở hữu trong lựa chọn đối tượng được huy động tín dụng nhận sự hỗ trợ của Nhà nước từ nguồn trái phiếu Chính phủ nguồn vốn viện trợ và các nguồn khác.

Tiếp tục thống nhất cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập giữa các loại hình doanh nghiệp theo nguyên tắc tiền lương thu nhập trong doanh nghiệp được gắn với năng suất lao động hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và phù hợp với mặt bằng trên thị trường bảo đảm hài hòa lợi ích của người lao động chủ sở hữu doanh nghiệp.

Không sử dụng các hình thức quyết định hành chính nhà nước để truyền tải quyết định của chủ sở hữu nhà nước (quyết định của chủ sở hữu nhà nước có hình thức và theo mẫu riêng); hoàn thiện quản trị doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ kinh tế thị trường đối xử bình đẳng giữa chủ sở hữu nhà nước với các chủ sở hữu khác trong doanh nghiệp nhà nước đa sở hữu.

Quyết định cũng nêu rõ các Bộ cơ quan ngang Bộ Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi chức trách được giao phối hợp với các Bộ ngành có liên quan quán triệt tinh thần của Đề án phổ biến cho các đơn vị doanh nghiệp; đồng thời có kế hoạch triển khai xây dựng và thực hiện các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu và điều chỉnh quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế của ngành và địa phương.

Đồng thời tập trung đẩy mạnh quá trình chuyển toàn bộ công ty nhà nước sang các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổ phần trong thời hạn quy định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp./.

 

Định hướng cơ bản đổi mới sự quản lý của nhà nước và nền hành chính quốc gia

1-     Quản lý nhà nước về kinh tế là hoạt động tất yếu và phổ biến của thượng tầng kiến trúc trong mọi thời đại kinh tế. Hơn nữa sự hoạt động của nhà nước và tác động tất nhiên của nó lại là điều không thể thiếu được đối với bất kỳ loại hình cơ chế kinh tế nào. Trong kinh tế thị trường với trình độ xã hội hóa đạt được đã khá cao lại càng nổi bật yếu tố quản lý bao gồm cả quản lý của nhà nước như một bộ phận hợp thành của cơ chế kinh tế của nó. Như vậy hoạt động quản lý của nhà nước cũng mang tính tất yếu khách quan trong mọi loại hình cơ chế kinh tế và có ý nghĩa hoạt động tự giác của con người rất gần gữi với các hoạt động kinh tế của họ. Người ta đã có lý khi ví hoạt động quản lý của nhà nước với việc làm của người nhạc trưởng và khi đó toàn bộ sự vận động của nền kinh tế là bản hoà tấu và không thể tách rời một cách cô lập hoạt động của người nhạc trưởng trên bục chỉ huy khỏi hoạt động của mỗi nhạc công và bài hoà tấu.
2- Vấn đề được đặt ra rất bức xúc trong chương trình nghị sự đổi mới sự quản lý của nhà nước trong quá trình chuyển qua cơ chế thị trường từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung là phải đánh giá lại và nhận định bản thân nội dung tính chất phạm vị và phương thức hoạt động quản lý của nhà nước trong cơ chế mới làm nổi bật những khác biệt rất cơ bản so với sự hoạt động đó trong cơ chế cũ.
3- Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang vận động theo cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý đang đứng trước đòi hỏi sự cải tạo tự xây dựng mình để xứng đáng và đáp ứng vai trò "người nhạc trưởng". Mọi hoạt động của nhà nước đều hướng về phát huy vai trò quản lý của mình đối với toàn bộ nền kinh tế. Nhà nước không sản xuất không kinh doanh buôn bán dịch vụ và không tự đặt ra mục đích kiếm lời cho mọi hoạt động của mình. Với ý nghĩa đó nhà nước có thể là người tài trợ cho các công trình thậm chí là người của chủ đầu tư của nhiều tổ chức kinh tế của Chính phủ của nhiều công trình không hoàn vốn. Nhưng như vậy cũng không thể gán cho nhà nước chức năng kinh doanh hoạt động sinh lợi kiếm lời... được. Đương nhiên mọi sự can thiệt quá sâu của người quản lý với tư cách chủ sở hữu vào hoạt động tác nghiệp của người đều hành hoặc hoạt động của doanh nghiệp dù là trong khu vực kinh tế tư nhân cũng đều là một mô hình quản lý kém hiệu năng. Song không nên từ đó phủ định vai trò can thiệp cần thiết của chủ sở hữu vào quá trình quản lý điều hành các hoạt động của doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp trong đó nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Trường hợp đó là nhà nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề không thể đặt ra theo hướng ngược lại được.
4- Sự tồn tại của khu vực kinh tế quốc doanh vừa có tính tất yếu của giai đoạn lịch sử sự phát triển của nó ở nước ta gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của chế độ sở hữu toàn dân từ sau ngày cách mạng thành công. Vì vậy không thể xem tư hữu và tư nhân hoákhu vực kinh tế này là tiền đề chuyển đổi cơ chế kinh tế. Tuy nhiên bản thân khu vực kinh tế đó cần được cải tổ một cách căn bản trong một số năm trước mắt. Đó là một yêu cầu cấp bách không phải chỉ để cho kinh tế quốc doanh phát huy được vai trò chủ đạo của nó mà thực sự cũng là một yêu cầu để cơ chế thị trường vận hành được thuận lợi phát huy tác dụng động lực tiến bộ của nó. Lợi ích của doanh nghiệp quốc doanh nói chung của người chủ sỡ hữu doanh nghiệp địa phương tập thể lao động của nó đều được đánh giá và phán quyết qua thị trường bằng cơ chế thị trường. Phải chăng thực tiễn cho hay rằng không phải hoàn toàn chỉ vì sở hữu nhà nước (toàn  dân công cộng) là nguyên nhân duy nhất gây ra trạng thái "vô chủ" và yếu động lực kém hiệu quả trong khu vực kinh tế quốc doanh ở nước ta.     

 

Đổi mới quản lý điều hành nhà nước đối với hệ thống y tế theo định hướng công bằng hiệu quả và phát triển.

Đàm Viết Cương và cộng sự

 

Đây là nghiên cứu báo cáo chuyên đề trong dự án Các lựa chọn chính sách để đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt nam theo hướng công bằng hiệu quả và phát triển.

Hiện trạng

Quá trình xây dựng chính sách còn chưa đảm bảo đầy đủ thông tin và bằng chứng khoa học chắc chắn. Tác động của các chính sách đổi mới trong y tế đối với công bằng trong khám chữa bệnh sự thay đổi hành vi của người cung ứng dịch vụ y tế và người sử dụng dịch vụ y tế chất lượng dịch vụ y tế dư luận xã hội cũng chưa được dự báo nghiên cứu đầy đủ. Vẫn còn thiếu sự phối hợp cần thiết giữa nhà nghiên cứu và nhà xây dựng chính sách.

Bộ máy thanh tra kiểm tra mỏng không đủ quyền chưa đủ năng lực để thực hiện kiểm tra giám sát nhất là giám sát chuyên ngành. Chưa xây dựng được hệ thống báo cáo thống nhất nhanh nhạy chính xác; chưa có các tiêu chí hợp lý để đánh giá chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và dịch vụ y học dự phòng. Thưởng phạt chưa nghiêm minh chưa khuyến khích được người có năng lực có thành tích thực sự.

Đối thoại liên ngành đối thoại giữa người thực thi chính sách giữa cán bộ y tế với người hưởng lợi chưa phải là hoạt động phổ biến. Các kênh thông tin đại chúng chưa được khai thác có hiệu quả.

Tổ chức bộ máy chưa thực sự phù hợp với mục tiêu chức năng và nhiệm vụ. Công tác quản lý điều hành nhà nước đối với hệ thống y tế về cơ bản đã được phân cấp tới các địa phương chưa thích ứng với công tác quản lý khu vực y tế tư đang phát triển nhanh. Cấu trúc của một số cơ quan quản lý điều hành chính sách y tế chưa phù hợp với chức năng nhiệm vụ.

Thiếu các cơ chế thích hợp nhằm nâng cao tính trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động trong hệ thống y tế đảm bảo tính minh bạch trong việc thực hiện các chức năng của hệ thống y tế.

Đổi mới và tăng cường vai trò của Nhà nước đối với hệ thống y tế

Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc lập kế hoạch quản lý và điều tiết giám sát lĩnh vực y tế ở tầm chiến lược giảm bớt việc tham gia trực tiếp quản lý tác nghiệp hằng ngày về cung ứng dịch vụ.

Trong điều kiện kinh tế thị trường Nhà nước càng phải có vai trò lớn hơn để thiết lập các điều kiện tiên quyết cho thị trường vận hành có hiệu quả điều chỉnh khuyết tật của thị trường và nâng cao tính công bằng.

Bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý điều hành đa dạng và phức tạp hơn Nhà nước phải là người cung cấp các dịch vụ y tế công cộng chăm sóc sức khoẻ cơ bản phát triển hệ thống khám chữa bệnh công lập nhất là ở tuyến cơ sở trợ giúp cho người nghèo và các vùng khó khăn.

Hoàn thiện quá trình xây dựng chính sách

Trước hết cầnbảo đảm các chính sách y tế được xây dựng và hoạch định dựa trên bằng chứng và được định kỳ theo dõi đánh giá và điều chỉnh sửa đổi. Công tác nghiên cứu đánh giá hiện trạng sức khỏe cộng đồng kết quả thực hiện chính sách cần được coi là một bước không thể thiếu trong quá trình xây dựng sửa đổi điều chỉnh chính sách.

Thứ hai là tiếp tục hoàn thiện chiến lược tổng thể dài hạn phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe làm cơ sở cho các chương trình phát triển chính sách y tế. Chiến lược tổng thể này cần bao gồm những định hướng chính sách bảo đảm tính công bằng hiệu quả và phát triển của hệ thống y tế khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ giữa các chính sách phát triển trong nội bộ hệ thống y tế cũng như giữa chính sách chăm sóc sức khỏe và các chính sách phát triển chung.

Trong quá trình xây dựng chính sách cần thu thập ý kiến đóng góp nhiều hơn của các đại biểu Quốc hội đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tham khảo đầy đủ ý kiến của người hưởng lợi. Tăng cường đội ngũ chuyên gia phân tích chính sách y tế của Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan về số lượng và trình độ chuyên môn khắc phục tình trạng đóng góp một cáchhình thức của một số cán bộ thuộc các bộ ngành khác đối với chính sách y tế.

Thứ ba là tăng cường phối hợp liên ngành tạo các liên kết đối tác. Sự phối hợp liên ngành và tạo các liên kết đối tác cần được đảm bảo ngay trong khâu xây dựng và hoạch định chính sách. Thường xuyên thực hiện các hình thức đối thoại liên ngành đối thoại trong nội bộ ngành đối thoại giữa người cung ứng dịch vụ y tế và người sử dụng dịch vụ y tế.

Làm tốt hơn hoạt động thông tin tuyên truyền chính sách y tế tổ chức và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về thông tin tuyên truyền chuyên trách về quan hệ vớicộng đồng ("public relations - PR").

Điều chỉnh bộ máy tổ chức quản lý y tế

Công tác giám sát thanh tra cần được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động quản lý điều hành nhà nước. Bộ máy thực hiện nhiệm vụ giám sát thanh tra ở cấp bộ và tỉnh thành phố cần được tăng về số lượng và được đào tạo nghiệp vụ về thanh tra giám sát.

Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo về hoạt động chăm sóc sức khỏe trong điều trị cũng như dự phòng một cách khoa học đảm bảo tính khách quan. Hệ thống báo cáo cần có các tiêu chí các chỉ số đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe khoa học tin cậy có thể đánh giá một cách khách quan tình hình sức khỏe trong cộng đồng và chất lượng dịch vụ y tế.

Tổ chức chức năng nhiệm vụ của bộ máy quản lý nhà nước về y tế ở các cấp cần được thiết kế lại để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với khu vực y tế tư đang phát triển nhanh. Cần trao quyền cho cơ quản quản lý được thưởng phạt cưỡng chế... đối với tất cả các cá nhân và tổ chức có hoạt động liên quan đến dịch vụ y tế và đến sức khỏe nhân dân nói chung ở cả khu vực nhà nước và tư nhân.

Cuối cùng trách nhiệm giải trình là một trong những điểm còn yếu cần được khắc phục của quản lý điều hành nhà nước (thiếu sự phân công phân nhiệm cho các tổ chức và cá nhân một cách rõ ràng rành mạch xử lý khi chưa hoàn thành nhiệm vụ chưa trở thành thường quy).

Về phân cấp trong quản lý điều hành nhà nước

Giảm bớt nhiệm vụ quản lý điều hành trực tiếp đối với các cơ quan đơn vị cung ứng dịch vụ (điều trị sản xuất v.v..)đang trực thuộc Bộ Y tế. Bộ Y tế sẽ có nhiều thời gian hơn cho công tác xây dựng chính sách và giám sát chỉ đạo thực hiện chính sách ở tầm vĩ mô.

Thực hiện sự phân cấp lớn hơn nữa cho các địa phương không chỉ trong tổ chức thực hiện chính sách mà cả trong việc xây dựng chính sách đặc thù phù hợp với hoàn cảnh từng địa phương.

Tăng cường tính tự chủ của các bệnh viện công cũng thuộc phạm trù phân cấp quản lý song cần được thực hiện từng bước kèm theo những điều kiện bảo đảm nhất định như đã trình bày ở mục trên.

Đổi mới và tăng cường phối hợp liên ngành

Thường xuyên thực hiện các hình thức đối thoại liên ngành đối thoại trong nội bộ ngành đối thoại giữa người cung ứng dịch vụ y tế và người sử dụng dịch vụ y tế để đạt được sự đồng thuận trong việc thực hiện chính sách.

Phát huy vai trò của cộng đồng của các tổ chức đảng chính quyền các đoàn thể các tổ chức xã hội... cần được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.

Thực hiện phân cấp quản lý một cách cẩn trọng sẽ làm cho việc lồng ghép và phối hợp liên ngành ở cấp cơ sở tốt hơn thúc đẩy sự hợp tác phối hợp liên ngành ở cấp quốc gia.

Ngày 25/02/2009

Viện Chiến lược và Chính sách Y tế

 

 

 

More...

Câu 04: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

By luctranvan

Câu 04

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS.TS. PHẠM NGỌC QUANG - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảm công bằng xã hội vì sự phát triển dân chủ văn minh của đất nước song vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. Không phải đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra hầu khắp thế giới như hiện nay cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế - xã hội do khủng hoảng đó gây ra chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là "thị trường tự do" "bàn tay vô hình". Từ rất sớm chúng ta đã khẳng định nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Kiên trì tư tưởng đó tại Đại hội X Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải "bảo đảm vai trò quản lý điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"(1).

Ở Việt Nam hiện nay vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường mà còn xuất phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bài viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu.

Thị trường kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất trao đổi và tiêu dùng nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa. Đương nhiên nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền. Song để đường lối quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được triển khai bằng Nhà nước thông qua Nhà nước dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo. Xét từ giác độ đó Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng khi chúng phản ánh chính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường lấy quy luật thị trường làm cơ sở. Xét ở mặt này chúng mang tính khách quan. Nhưng chúng lại là sự thể chế hóa cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng nên cũng có mặt chủ quan. Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa định hướng chủ quan (ý chí của Đảng của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân thì việc ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc. Nhà nước có cơ chế chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:

Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân sở hữu tập thể sở hữu tư nhân) ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước hình thức sở hữu tập thể hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách pháp luật đòn bẩy kinh tế để định hướng làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế chính sách... tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định tổ chức giám sát kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.

Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước - để định hướng can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói giảm nghèo đền ơn đáp nghĩa...

Đặc biệt trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. "ổn định" ở đây thể hiện sự cân đối hài hòa các quan hệ nhu cầu lợi ích giữa người và người tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mục tiêu phát triển của đất nước. Tính đúng đắn hợp lý và kịp thời của việc hoạch định và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nước đảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó. Là những công cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển và tăng trưởng kinh tế các chính sách pháp luật của Nhà nước một mặt phải phản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội của mọi chủ thể kinh tế...; mặt khác phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu lợi ích cụ thể của các chủ thể đó.

Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh". Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tế khác nhau... là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề này.

Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung của sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng. Một trong những mục tiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội. Đây là một nhiệm vụ lâu dài. Ở nước ta hiện nay công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngang nhau mà còn ở chỗ cống hiến - đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại - ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau. Từ đó việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ công bằng xã hội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển kinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năng phát triển tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình thức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình; tạo vị thế cho kinh tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải phóng con người; ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho quảng đại người lao động.

Để thực hiện các mục tiêu đó điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả. Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này. Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước càng được xây dựng đồng bộ đúng đắn nhất quán và kịp thời bao nhiêu càng có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu. Song tự nó pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế. Để cho các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế chúng phải được đưa vào vận hành. Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ này. Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế.

Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành nghề vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng ngành và nhu cầu chung của xã hội... Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh đối tác kinh tế thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình...

Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội môi trường kinh doanh môi trường an ninh - trật tự an toàn trong quan hệ giữa người và người giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền... Ngoài những nỗ lực của nhà nước trong sự đồng tình của nhân dân không lực lượng nào khác có thể tạo lập được những yêu cầu an toàn như vậy.

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay sự giao lưu kinh tế hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà nước được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước. Bằng chính sách hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế các hiệp định kinh tế các nghị định thư... Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế. Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công là chứng minh rõ rệt cho điều này.

Nhà nước ta là chủ thể chính của nền giáo dục - đào tạo. Bằng hệ thống chính sách giáo dục đào tạo của mình được thực hiện qua hệ thống giáo dục - đào tạo do Nhà nước thống nhất quản lý dù tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau (công lập ngoài công lập liên doanh liên kết trong nước và với nước ngoài...) Nhà nước cung cấp nguồn lao động chính có chất lượng cho sản xuất kinh doanh cung cấp cán bộ quản trị doanh nghiệp cho mọi thành phần mọi loại hình kinh tế. Qua đó Nhà nước ta có tác động rất mạnh và trực tiếp tới việc nâng cao năng lực sản xuất nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế nâng cao hiệu quả của kinh tế thị trường nói chung.

Cùng với tác động của hệ thống luật kinh tế và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế Nhà nước còn định hướng nền kinh tế qua các công cụ gián tiếp là chính sách kinh tế như chính sách tài chính - tiền tệ chính sách đầu tư chính sách thu nhập và việc làm...

Việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta không mâu thuẫn với vấn đề có tính nguyên tắc: sự vận hành của nền kinh tế thị trường nào cũng trước hết và chủ yếu do các quy luật thị trường quyết định. Song quy luật kinh tế thị trường lại thuộc lĩnh vực quy luật xã hội. Tính khách quan của nó được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Dựa trên việc nhận thức đúng đắn những yêu cầu của các quy luật trong nền kinh tế thị trường Nhà nước cụ thể hóa những yêu cầu đó thành luật chính sách kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xác định đúng bước đi để hiện thực hóa chúng. Đây là nhân tố có tác động trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế thị trường vận động phù hợp với quy luật nội tại của nó. Ở đây có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan. Song sự thống nhất đó chỉ có được khi lợi ích chân chính mà nhà nước theo đuổi phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội nói chung của kinh tế thị trường nói riêng; chủ thể nhà nước có năng lực trí tuệ đủ tầm để nắm bắt vận dụng yêu cầu của các quy luật kinh tế vào việc hoạch định các chính sách phát triển. Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay xét về bản chất Nhà nước ta là nhà nước của dân do dân vì dân lấy lợi ích của dân tộc đáp ứng đúng nhu cầu phát triển khách quan của xã hội làm mục tiêu hoạt động của mình. Nhà nước ta lấy hệ tư tưởng cách mạng và khoa học (chủ nghĩa Mác - Lê-nin tư tưởng Hồ Chí Minh) làm một trong những cơ sở xuất phát quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển kinh tế. Đó là hai nhân tố bảo đảm có sự thống nhất giữa tính khách quan của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là một nhân tố chủ quan tác động tích cực tới sự phát triển của nền kinh tế đó.

Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ đó tốc độ tăng trưởng kinh tế nhìn chung không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 - 1990 tăng trưởng GDP bình quân đạt 4 5%/năm; 1996 - 2000: 7%/năm; 2001 - 2005: 7 5%/năm; năm 2007 đạt 8 48%. Năm 2008 dù phải đối mặt với không ít khó khăn nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6 23%.

Để góp phần giữ vững độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế từ đó có độc lập tự chủ trên con đường phát triển đất nước nói chung Nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực coi trọng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Trong năng lực nội sinh chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con người. Do vậy Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13 5% năm 1996 tăng lên 19 7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12 31% lực lượng lao động được đào tạo đến nay tỷ lệ này đạt 31%. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990 tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2 9% năm 2004 là 35 15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên...

Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư thu hút được nhiều vốn ODA FDI ... Từ năm 1988 đến hết năm 2006 có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm 2006 khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2 5 triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007 nguồn vốn ODA từ các nước các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD trong đó 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008 dù kinh tế thế giới suy thoái nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD trong đó các dự án mới chiếm 60 2 tỉ USD.

Một tiêu chí quan trọng đánh giá tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là hướng sự phát triển của nó vào việc nâng cao đời sống của nhân dân. Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể. Năm 1995 GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005: 639 USD; năm 2007: 835 USD. Năm 2008 GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000 USD. Với mức thu nhập này Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp(2)...

Vai trò của Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét trong ban hành thực thi các chính sách khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây. Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách và bằng việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0 18% tháng 10 giảm 0 19% tháng 11 giảm 0 76% tháng 12 giảm 0 68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm tăng 26 3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62 9 tỉ USD vượt kế hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80 4 tỉ USD tăng 28% so với năm 2007. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên việc phát huy vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cũng còn những hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa được xây dựng đồng bộ vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập; chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể còn rất yếu kém; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường...

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hiệu lực tác động của Nhà nước tới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu. Hệ thống luật này phải khẳng định và bảo vệ sự tồn tại khách quan lâu dài tính đa dạng của các hình thức sở hữu; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu. Cần xác định rõ nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta là cung cấp môi trường pháp lý tin cậy cho các chủ thể kinh tế phát huy tối đa năng lực của họ.

Cùng với vấn đề then chốt trên cần tiếp tục phân định rạch ròi chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Nhà nước cần làm tốt chức năng hỗ trợ cho toàn xã hội sản xuất hàng hóa công cũng như tư; đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội...

Để nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế cần cải cách thể chế xây dựng chính sách tích cực đấu tranh chống các hành vi độc đoán chuyên quyền tệ quan liêu tham nhũng trong bộ máy nhà nước.

Việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài đó sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả tác động của Nhà nước tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu hiện nay./.


(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 2006 tr 78

(2) TS Nguyễn Từ tổng hợp tính toán từ Thời báo Kinh tế Việt Nam Kinh tế Việt Nam và thế giới 2007 - 2008

Phân Tích Những Đặc Điểm Của Nền Kinh Tế Hàng Hóa Theo Định Hướng Xã Chủ Nghĩa ? Xu hướng vận động và phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta ?

Xu hướng vận động và phát triển kinh tế hàng hoá ở nước ta gắn liền với các đặc điểm sau :
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hàng hoá kém phát triển mang nặng tính tự cấp tự túc sang thành nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp đến cao.
Do nền kinh tế nước ta có cơ cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội thấp kém.
Trình độ cơ sở vật chất và công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu không có khả năng cạnh tranh.
Hầu như không có đội ngũ nhà doanh nghiệp có tầm cỡ.
Thu nhập của người làm công ăn lương và nông dân thấp kém sức mua hàng hoá của xã hội và dân cư thấp nên nhu cầu tăng chậm dung lượng thị trường trong nước còn hạn chế.
Các biểu hiện trên một mặt phản ánh trình độ thấp kém về dung lượng cung cầu hàng hoá và khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
Mặt khác nó cũng tạo ra áp lực buộc chúng ta phải vượt qua thực trạng đó và đưa nền kinh tế phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần:
Tiếp cận đặc điểm này của kinh tế hàng hoá theo các khía cạnh sau :
Nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất là cơ sở kinh tế gắn liền với sự tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá.
Thực trạng kinh tế hàng hoá ở nước ta kém phát triển là do nhiều nhân tố nhưng nhân tố gây hậu quả nặng nề nhất là sự nhận thức không đúng dẫn đến nôn nóng xoá bỏ nhanh các thành phần kinh tế.
Nền kinh tế nhiều thành phần là nguồn lực tổng hợp về nhiều mặt có khả năng đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng thấp kém.
Nền kinh tế hàng hoá chịu tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành theo hướng nền kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng.
Đặc điểm này gắn liền với hai khía cạnh sau :
+ Nó đảm bảo cho mọi người mọi doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào cũng đều được tự do kinh doanh theo pháp luật được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp.
+ Các chủ thể kinh tế đều được hoạt động theo cơ chế tự chủ hợp tác cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật.
Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở" giữa nước ta với các nước trên thế giới :
Sự ra đời nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động trong sự gắn bó với thị trường thế giới.
Nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu "mở" ra đời bắt nguồn từ quy luật phân bố và phát triển không đều về tài nguyên thiên nhiên sức lao động và thế mạnh giữa các nước.
Nền kinh tế hàng hoá theo cơ cấu "mở" thích ứng với chiến lược thị trường "hướng ngoại".
Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước :
Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế nhà nước :
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần kinh tế nhà nước với bản chất vốn có của nó lại nắm giữ các ngành lĩnh vực then chốt và trọng yếu nên trở thành nhân tố kinh tế bảo đảm cho kinh tế hàng hoá của các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tính hiện thực của vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế nhà nước chỉ được khẳng định khi nó phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế khác.
Vai trò quản lý của nhà nước nhân tố đảm bảo cho định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế hàng hoá :
Sự phát triển kinh tế hàng hoá bên cạnh mặt tích cực đem lại sự phát triển lực lượng sản xuất tăng trưởng kinh tế cao của nó mặt khác nó không tránh khỏi những khuyết tật nhất định về mặt xã hội như : phá sản khủng hoảng tàn phá môi trường ... Những khuyết tật này cần phải có sự quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Nền kinh tế hàng hoá giữa các nước ngoài sự khác nhau về trình độ phát triển và sự phân phối lợi ích kinh tế giữa các tầng lớp dân cư do kinh tế đem lại nhằm mục đích gì? có lợi cho ai? Còn có sự khác nhau không kém phần quan trọng là ở trình độ quản lý theo cơ chế thị trường của nhà nước.
Nước ta do chịu ảnh hưởng lâu ngày cuả cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp... Nên vai trò quản lý của nhà nước ta là nhân tố đảm bảo cho định hướng XHCN của kinh tế hàng hoá.Một nền kinh tế hàng hoá kém phát triển mang nặng tính chất tự cung tự cấp chuyển sang một nền kinh tế hàng hoá phát triển từ thấp đến cao đòi hỏi nhà nước phải sử dụng có hiệu quả các công cụ pháp luật tài chính tiền tệ tín dụng ... Mặt khác phải tạo ra môi trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh trên cơ sở khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế thực hiện các chính sách xã hội đảm bảo cho sự thống nhất giữa kinh tế và xã hội.

More...

Câu 3: Phân tích nguồn gốc bản chất của giá trị thặng dư và các phương pháp bóc lột giá trị thặng dư trong CNTB ?

By luctranvan

Câu 3: Phân tích nguồn gốc bản chất của giá trị thặng dư và các phương pháp bóc lột giá trị thặng dư trong CNTB ?

-        Nguồn gốc bản chất của giá trị thặng dư:

+ Trong mọi xã hội sức lao động là yếu tố sản xuất chủ yếu sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng. Ví dụ như: Phát minh khoa học cãi tiến kỷ thuật hay lao động sản xuất ra của cải vật chất ... khi sức lao động trở thành hàng hoá giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động tức là quá trình lao dộng tạo ra hàng hoá. Trong quá trình ấy chính lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hoá sức lao động tức là tạo ra giá trị thặng dư.

+ Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra dôi ra ngoài giá trị sức lao động là kết quả lao động không công của người lao động. Do đó nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giãn đơn khi quá trình lao động vượt quá điẻm  đó mới có sản xuất giá trị thặng dư.

+ Vậy nhân tố quyết định việc sản xuất giá trị thặng dư theo quan điểm chủ nghĩa Mac là nhân tố sức lao động của người công nhân (Chủ yếu là giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động).

+ Muốn sản xuất ra giá trị thặng dư (m) trước hết nhà tư bản ra thị trường những thứ cần thiết như: Tư liệu sản xuất sức lao động của người công nhân ... Sau khi có được hai loại hàng hoá đó nhà tư bản kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản bỏ ra phàn lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư (m).

Ví dụ: .............

-        Giá trị thặng dư tuyệt đối tương đối và siêu ngạch

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuát giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu; trong khi năng suất lao động giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

·       Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi lao động còn thấp.

·       Với lòng tham không đáy nhà tư bản mọi cách kéo dài ngày lao động để nâng cao trình độ bóc lột. Nhưng do giới hạn về ngày tự nhiên về sức lực con người nên không thể kéo dài vô hạn. Mặt khác còn do đấu tranh quyết liệt những giai cấp công nhân đòi rút ngắn thời gian lao động cũng không thể rút  ngắn chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường lao động vì tăng cường lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày trong khi thời gian lao động càn thiết không thay đổi.

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian loa động thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao động cường độ lao động cũng như cũ.

·       Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm bớt giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tuw liệu sản xuất tiêu dùng.

-        Giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối có điểm giống nhau đều làm tăng thời gian lao động thặng dư của người công nhân không chỉ đủ nuôi sông mình mà còn tạo ra phần thặng dư. Song hai phương pháp này có sự khác nhau về cách thức làm tăng thời gian lao động thặng dư.

+ Giá trị thặng dư siêu ngạch: Là giá trị thặng dư thu được do người áp dụng công nghẹ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó. Khi đa số các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ thì giá trị thặng dư sieu ngạch của doanh nghiệp đó không còn nữa.

·       Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời cục bộ. Nhưng xét về toàn bộ tư bản giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng thường xuyên. Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động.

·       Giá trị thăng dư  siêu ngạch là giá trị thặng dư tương đối giống nhau ở chỗ đều là tăng năng suất lao động. Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau: giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt; còn giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.


 

More...

Câu 2: Phân tích nội dung tác động của qui luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa TBCN ? ý nghĩa của việc phân tích trên ?

By luctranvan

Câu 2: Phân tích nội dung tác động của qui luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa TBCN ? ý nghĩa của việc phân tích trên ?

- Nội dung qui luật giá trị: Quy luật giá trị là quy luật nội dung quy lật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trê trên cơ sở giá trị của nó tức là trên cơ sở hao phí lao động xã hội càn thiết. Cụ thể là:

          + Trong sản xuất: Quy luật giá trịđòi hỏi người sản xuất phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết luôn có thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.

          + Trong lưu thông: Trao đổi phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá.

-        Cơ chế tác động của Quy luật giá trị đối với nền kinh tế hàng hoá là thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường.

-        Tác dụng của Quy luật giá trị:

+ Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá thông qua sự lên xuống giá cả Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết và lưu thông.

     Điều tiết sản xuất: Người sản xuất bỏ ngành có giá cả thấp đổ xô ngành có giá cả sản xuất cao làm cho qui mô sản xuất của một số ngành được mở rộng một số ngành bị thu hẹp.

     Điều tiết lưu thông: Làm cho hàng hoá lưu chuyển từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao. Như vậy Quy luật giá trị  cũng tham gia vào phân phối các nguồn hàng cho hợp lee  hơn giữa các vùng.

+ Kích thích cãi tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất tăng năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm.

          Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau. Nhưng trên thị trường đều phải trao đổi theo mức phí lao động xã hội cần thiết. Người sản xuất nào có giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội thì sẽ có lợi. Vì vậy mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giãm giá trị cá biệt hàng hoá hàng hoá của mình xuống dưới mức giá trị xã hội bằng các cải tiến  kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt làm cho năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên chi phí sản xuất xã hội không ngừng giãm xuống.

          + Phân bố những nhà  sản xuất hàng hoá thành giàu nghèo làm xuất hiejn quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

          Trong sản xuất hàng hoá hàng hoá của nhà sản xuất nào có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội thì người đó có lợi ngược lại thì bị bất lợi và phá sản. Vì vậy một số người phát tài trở nên giàu có một số thì trở nên nghèo đói. Từ đó những người giàu trực tiếp mở rộng sản xuất kinh doanh thuê them công nhân và trở thành tư bản; những người bị phá sản trở thành những người lao động làm thuê.

Ý nghĩa của việc phân tích trên:

+ Xem quy luật giá trị hoạt động trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là một yếu tố khách quan

+ Trong quá trình sản xuất cũng như trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào thời gian lao động xã hội càn thiết

+ Bản thân quy luật giá trị cũng có tính hai mặt (Tích cực và hạn chế). Đòi hỏi phải nắm bắt và vận dụng tốt vào diều kiện sản xuất hàng hoá ở nước ta hiện nay.

More...

Câu 1: Trình bày các thuộc tính tính chất hai mặt và số lượng hàng hóa ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên

By luctranvan

Câu 1: Trình bày các thuộc tính tính chất hai mặt và số lượng hàng hóa ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên ?

-        Hàng hoá

-        Hàng hoá: là sản phảm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Được sản xuất ra để trao đổi hoặc bán.

-        Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình: Lương thực thực phẩm sắt thép ... hoặc ở dạng vô hình như những dịch vụ: Vận tải thương mại hay sự phục vụ của giáo viên bác sỹ hay nghệ sỹ ...

-        Một sản phẩm muốn trở thành hàng hoá phải có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.

+ Giá trị sử dụng hàng hoá:

Là công cụ của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (có thể là nhu cầu sản xuất cũng có thể là nhu cầu tiêu dùng). Giá trị sử dụng hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quyết định. Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Xã hội loài người càng phát triển càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên có ích của vật phẩm và lợi dụng những thuộc tính tự nhiên đó để tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn than đá ngày xưa chỉ dùng làm chất đốt nhưng khi hoa học kỹ thuật phát triển nó còn làm nguyên liệu cho một số ngành công nghệ hoá chất.

Giá trị sử dụng cho xã hội không phải giành cho người sản xuất ra nó mà giành cho người mua nó. Do Vậy: Giá trị sử dụng giành cho hàng hoá tuỳ thuộc vào sự đánh giá của người mua tuỳ theo yêu cầu thị hiếu của họ.

+ Giá trị của hàng hoá:

          Muốn hiểu được giá trị hàng hoá càn tìm hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng là khả năng trao đổi của hàng hoá thể hiện ở tỷ lệ theo đó một loại hàng hoá này được trao đổi với một loại hàng hoá khác.

Ví dụ: 1m vãi = 5 kg thóc sở dĩ vãi và thóc là hai loại hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có thể trao đổi với nhau được theo một tỷ lệ nhất định vì vãi và thóc đều là sản phẩm của lao động chúng đều có cơ sở chung là hao phí lao động của con người. Sự hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá được gọi là giá trị.

                    Giá trị của hàng hoá: Là lao động xã hội của con người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị. Giá trị phản ảnh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất hàng hoá.

-        Mối quan hệ giữ hai thuộc tính: Hai thuộc tính hàng hoá  có mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẩn với nhau.

o      Mặt thống nhất thể hiện hai chổ: Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hoá. Nghĩa là một vật phải có đủ hai thuộc tính này mới là hàng hoá. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng hoá. Chẳng hạn một vật có ích (tức có giá trị) nhưng không do lao động tạo ra (tức không có kết tinh lao động) Như: Không khí ánh sáng tự nhiên ... sẽ không phải là hàng hoá.

o      Mâu thuẩn giữa hai thuộc tính của hàng hoá thể hiện ở chổ:

+ Thư nhất: với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đông nhất về chất. Nhưng ngược lại với tư cách là giá trị thì hàng hoá lại đồng nhất về chất đều là: "kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi" tức đều là sự kết tinh của lao động đã dược vật hoá.

+ Thứ hai: tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hoá nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau cả về không gian và thời gian. Giá trị được thực hiejn trước - trong lĩnh vực lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện sau - Trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó nếu giá trị của hàng hoá không được thực hiện được (tức là không bán được) thì quá trình sử dụng nó cũng không được thực hiện. Nó thể hiện rõ nhất khi bùng nổ khủng khoãng "sản xuất thừa".

* Tính chất hai mặt lao động sản xuất hàng hoá: Sở dĩ có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng là do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định. Tính chất hai mặt đó là: Lao dộng cụ thể và lao động trừu tượng.

          * Lao động cụ thể: Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ may thợ dệt thợ cơ khí ... mỗi lao động cụ thể có một mục đích đối tượng phương pháp lao động tư liệu lao độngvà kết quả sản xuất riêng. Mỗi lao động  cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định. Trong một hình thái kinh tế - xã hội những hình thức của lao động cụ thể phụ thuộc vào sự phát triển của kỹ thuật lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội khoa học càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú và đa dạng. Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn

                    * Lao động trừu tượng: Là lao đông của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái không đồng nhất. Đó là sự tiêu phí sức lao động tiêu hao sức cơ bắp thần kinh của con người khi sản xuất hàng hoá. Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá cần chú ý: sự tiêu phí sức lực của người sản xuất hàng hoá mới là lao động trừu tượng.

*  Lượng giá trị của hàng hoá:

- Giá trị của hàng hoá có hai mặt: Chất & Lượng

          + Chất của giá trị: Là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.

          + Lượng của giá trị: Là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá được đo bằng thời gian lao động để sản xuất ra hàng hoá được đo bằng thời gian lao động dể sản xuất hàng hoá; tính bằng ngày giờ phút giây ...

·       Lượng giá trị trong xã hội của hàng hoá không tính bằng thời gian lao động cá biệt là thời gian lao động xã hội cần thiết.

·       Thời gian lao động xã hội cần thiết: Là một hời gian sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong điều kiejn sản xuất bình thường trình độ kỹ thuật và cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một loại hàng hoá gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất ra đa số loại hàng hoá đó trên thị trường.

·       Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác.

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên:

- Đem lại cho học thuyết lý luận giá trị lao động một cở sở khoa học thật sự. Các nhà kinh tế học trước Mác cho rằng Lao động tạo ra giá trị nhưng không biết mặt lao động nào tạo ra giá trị. C. Mác phát hiện ra mặt lao động trừu tượng của người sản xuất hàng loạt ra giá trị hàng hoá.

- Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá C.Mac đã giải thích được nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư phân tích được bản chất bất biến và tư barnn khả biến ... Do đó đem lại cơ sở khoa học vũng chắc học thuyết giá trị thặng dư học thuyết tích luỹ học thuyết tái sản xuất ...

- Do lao động tạo ra giá trọ hàng hoá nên trong nền sản xuất hàng hoá của Việt Nam hiện  nay cũng phải chú ý đến lao động trừu tượng

 


 Liên hệ:

Hàng hoá : là sản phẩm của lao động có khả năng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người trong tiêu dùng để trao đổi.Có 2 thuộc tính : Giá trị sử dụng & Giá trị trao đổi.
. Giá trị sử dụng : là công dụng của sản phẩm có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người trong tiêu dùng.
Đặc điểm :
+ Bộc lộ thông qua quá trình thỏa mãn nhu cầu của con người.
+ Một hàng hoá có thể có nhiều công dụng
+ Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn gắn liền với cuộc sống.
Hình thái:
+ Biểu hiện ở các tư liệu sản xuất ( như nguyên liệu máy móc)
+ Biểu hiện ở các vật phẩm phục vụ tiêu dùng cá nhân ( như lương thực thực phẩm).
. Giá trị trao đổi : mang tính trừu tượng là tương quan về số lượng giữa hàng hoá này với hàng hoá khác trong trao đổi. Nó là một phạm trù trừu tượng giữa những người sản xuất chỉ thông qua trao đổi.
Đặc điểm : Giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng đã kết tinh trong hàng hoá.
Giá trị do lao động kết tinh thước đo là thời gian.Giá trị được coi là cơ sở
trao đổi.Nó là một phạm trù trừu tượng giữa những người sản xuất.Chỉ
thông qua trao đổi mới có giá trị.
Bản chất của trao đổi hàng hoá : người ta chỉ đổi cho nhau những vật có công dụng khác nhau nhưng giá trị bằng nhau. Qua trao đổi giá trị được biểu hiện bằng tiền(giá cả).
Tính chất hai mặt của hàng hoá :
Lao động sản xuất hàng hoá có tính 2 mặt : lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
+ Lao động cụ thể : là lao động của một nghề chuyên môn nhất định có đối tượng mục đích phương pháp công cụ lao động riêng đạt kết quả riêng.
+ Lao động trừu tượng : là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó. Nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
Mâu thuẫn với lao động cụ thể của nó thông qua 2 thuộc tính.
So sánh lao động giản đơn - lao động phức tạp :
. Lao động giản đơn : ai cũng tiến hành được không đòi hỏi chuyên môn.
. Lao động phức tạp : là lao động qua đào tạo kỹ thuật cần kỹ năng chuyên môn.
So sánh lao động tư nhân - lao động xã hội :
Lao động tư nhân : là lao động của từng cá nhân sản phẩm của mỗi cá
nhân. Là lao động mang tính tự phát.
Lao động xã hội : là lao động do cá nhân hợp thành cần phải có điều kiện sản phẩm của cá nhân.

 


 Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người và dùng để trao đổi với nhau. Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội sản xuất hàng
hoá có bản chất khác nhau nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính:

a) Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của
con người ví dụ: cơm để ăn xe đạp để đi máy móc nguyên nhiên vật liệu để sản
xuất... Vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định. Công dụng của vật phẩm do
thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định. Khoa học kỹ thuật càng phát triển người ta
càng phát hiện thêm những thuộc tính mới của sản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra
những giá trị sử dụng mới. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng. Nó
là nội dung vật chất của của cải. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn.
Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá nó không phải là
giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá mà là giá trị sử dụng cho người
khác cho xã hội thông qua trao đổi - mua bán. Trong kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng
là vật mang giá trị trao đổi.

b) Giá trị hàng hoá:

Muốn hiểu được giá trị phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ
về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác.
Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc. Vải và thóc là hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác
nhau về chất tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau và trao đổi theo tỷ lệ nào
đó.

Khi hai sản phẩm khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau thì giữa
chúng phải có một cơ sở chung nào đó. Cái chung ấy không phải là giá trị sử dụng tuy
nhiên sự khác nhau về giá trị sử dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi.
Nhưng cái chung đó phải nằm ngay ở trong cả hai hàng hoá. Nếu gạt giá trị sử dụng của
sản phẩm sang một bên thì giữa chúng chỉ còn một cái chung làm cơ sở cho quan hệ
trao đổi. Đó là chúng đều là sản phẩm của lao động. Để sản xuất ra vải hoặc thóc những
người sản xuất đều phải hao phí lao động. Chính hao phí lao động ẩn giấu trong hàng
hoá làm cho chúng có thể so sánh được với nhau khi trao đổi. Chúng được trao đổi theo
một tỷ lệ nhất định một số lượng vải ít hơn đổi lấy một lượng thóc nhiều hơn (1 m vải =
10 kg thóc); nhưng lượng lao động hao phí để sản xuất ra chúng là ngang bằng nhau.
Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoá chính là cơ sở để trao
đổi.

Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng
hoá. Chất của giá trị là lao động vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản
xuất chứa đựng trong đó thì nó không có giá trị. Sản phẩm nào lao động hao phí để sản
xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao.

c) Mối quan hệ giữa hai thuộc tính

Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Trong
đó giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu
hiện của giá trị ra bên ngoài. Khi trao đổi sản phẩm cho nhau những người sản xuất
ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau. Thực chất của quan hệ trao đổi
là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá. Vì
vậy giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá. Giá trị là
một phạm trù lịch sử gắn liền với nền sản xuất hàng hoá. Nếu giá trị sử dụng là thuộc
tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá.

Như vậy hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị
nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Đối với người sản xuất hàng hoá họ tạo ra
giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị họ
quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi. Ngược lại đối với
người mua cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của
mình. Nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Như
vậy trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó. Nếu không thực
hiện được giá trị sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng.

VnEcon - Kênh tiếp cận khách hàng mới của bạn
VnEcon tặng 50% giá trị hợp đồng quảng cáo và nhiều ưu đãi đặc biệt khác.
Chương trình biệt đãi khách hàng áp dụng từ ngày 01/09/2009 đến hết ngày 30/09/2009.

Contact: 093 777 7963 - ads (at) vnecon [dot] com

 


 

More...

Câu 04: SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ QUY LUẬT TUYỆT ĐỐI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

By luctranvan

Dolar

Dưới đây là 1 số hiểu biết của mình về sản xuất giá trị thắng dư!
Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Mác - Lênin. Các Mác đã nghiên cứu và đưa ra một số công thức tính toán xung quanh khái niệm này trong các tác phẩm viết về kinh tế chính trị của ông. Nó được sử dụng để khẳng định lao động thặng dư của công nhân bị các nhà tư bản lấy đi là nền tảng cho sự tích lũy tư bản.
Học thuyết về giá trị thặng dư
Học thuyết giá trị thặng dư là phát minh quan trọng thứ hai sau biện luận duy vật lịch sử của Marx. Nội dung chính của học thuyết phát biểu rằng sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình đối với sản phẩm từ hoạt động đó đối với chính mình đối với người khác.

Trong học thuyết này Marx đưa ra công thức T-H-T (tiền-hàng hóa-tiền) để minh họa cho sự biến đổi của vốn (tư bản) dạng tiền sang dạng hàng hóa và cuối cùng quay trở lại dạng tiền ở mức cao hơn mức ban đầu một lượng ΔT (nghĩa là T =T+ ΔT). Bởi tất cả giá trị được tạo thành trong quá trình biến đổi thông qua sản xuất hàng hóa là do lao động (theo Thuyết giá trị về lao động) mà chủ yếu là lao động của người làm thuê nên giá trị thặng dư ΔT cũng là giá trị do lao động kết tinh. Tuy nhiên giá trị này không được chia đều cho những người trực tiếp làm ra nó mà thuộc quyền sở hữu của chủ tư bản.

Khác với công thức H-T-H (hàng hóa-tiền-hàng hóa) phản ánh chức năng trung gian của tiền trong trao đổi công thức T-H-T phản ánh sự luân chuyển và tự phát triển của tư bản. Tư bản dưới dạng tiền trở thành một chủ thể tự thân đối lập với sức lao động bóc lột sức lao động để nuôi lớn mình lên. Marx chỉ ra rằng đó là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Theo công thức đã dẫn thì tư bản có khả năng lớn lên vô giới hạn. Tuy nhiên Marx cũng chỉ ra giới hạn nhất định của phát triển tư bản do chi phối của quy luật lợi nhuận trung bình. Lợi nhuận trung bình xảy ra do sự cạnh tranh tư bản giữa các ngành kinh tế khác nhau. Mặc khác do khả năng chi trả trong thị trường cho nhu cầu tiêu dùng là có hạn nên điều đó cũng kìm hãm tốc độ vận động của tư bản.

Hình thức cao nhất của sự phát triển tư bản là cho vay lãi. Chủ nhân của tư bản vay lãi có cảm giác rằng tiền đẻ ra tiền và công thức vận động của tư bản biến thành T-T .

Định nghĩa giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư được Marx xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ ra. Trong quá trình kinh doanh nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến. Tuy nhiên người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản bỏ ra. Phần dư ra đó gọi là giá trị thặng dư.

Có thể lấy một ví dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng. Đến giờ thứ hai trở đi trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất người lao động đó sẽ làm ra được 1100 đồng. Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động.

Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư
* Năng suất lao động
* Thời gian lao động
* Cường độ lao động
* Công nghệ sản xuất
* Thiết bị máy móc
* Vốn

Ý nghĩa
* Xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế công thức trên cho thấy bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có tiền (vốn) được đưa vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh trực tiếp hay gián tiếp như thông qua đầu tư chứng khoán thậm chí gửi ngân hàng sẽ sinh lời. Đồng tiền chỉ trở thành công cụ sinh lời nếu đầu tư vào sản xuất hay kinh doanh. Mỗi cá nhân đều có thể trở thành nhà tư bản nếu biết sử dụng hợp lý tiền của mình trong đầu tư kinh doanh. Nếu chỉ để tích lũy thuần túy thì đó là đồng tiền chết không những không có lợi cho cá nhân đó mà còn không có lợi cho những người khác cần vốn để sản xuất.
* Trong bất kỳ xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư nếu áp dụng được các công nghệ sản xuất tiên tiến sử dụng được tri thức trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm tăng giá trị thặng dư mà không cần phải kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động ảnh hưởng đến những người sản xuất.
* Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy làm tăng số tiền là cơ sở để tái sản xuất mở rộng phát triển quy mô sản xuất tăng trưởng kinh tế.

Giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động giá tri sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi. Phương pháp sản xuất giá tri thặng dư tương đối: Là phương pháp sản suất giá tri thăng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động cường độ lao động không đổi.

Phương pháp đo lường giá trị thặng dư
Các quan niệm khác về giá trị thặng dư
Có một số người cho rằng giá trị thặng dư là của người làm thuê tạo ra mà không phải của nhà tư bản. Để tránh được sự hiểu lầm như trên ta nên đi sâu tìm hiểu phân tích thêm về cả một guồng máy nào đã tạo nên giá trị thặng dư:

Ta gọi toàn bộ số tiền dôi ra trong quá trình kinh doanh sản xuất nói chung là giá trị thặng dư: ΔT=m thì ta nên phân tách m thành nhiều phần nhỏ là các thành tố trong toàn bộ bộ máy (doanh nghiệp) đã tạo ra m như sau:

m= m1 + m2 + m3 +m4 + m5 + m6 + m7 + m8 + m9 + m10 + m11 +...

Trong đó:

* m1: là phần tiền bù đắp cho tỉ lệ lạm phát để đảm bảo giá trị của đồng tiền theo thời gian |Tt|=|Ts+m1| (chẳng hạn là năm sau thì 11 đồng mới có giá trị bằng 10 đồng năm trước)
* m2: giá trị thặng dư của lao động quá khứ tích lũy trong tư bản (được hiểu là tiền đẻ ra tiền mà không phải làm gì cả ví dụ được tính tương đương với lãi suất trái phiếu chính phủ hoặc lãi suất ngân hàng trừ đi tỉ lệ lạm phát. Do đó LSNH=m1+m2;
* m3: công của nhà tư bản đã có ý tưởng và có công xây dựng nên bộ máy (công ty chẳng hạn) sản xuất ra giá trị thặng dư này
* m4: Chi phí trả cho sự mạo hiểm do nhà tư bản đã đầu tư vốn
* m5: Trả cho nhà tư bản đã có công quản lý vận hành đào tạo công nhân.
* m6: Trả cho các lao động đặc biệt của nhà tư bản mà các lao động này người công nhận không thể làm thay được.
* m7: trả lại tiền ăn học cho nhà tư bản.
* m8: trả cho gien di truyền đã tạo nên đức tính thông minh cần cù của nhà tư bản.
* m9: trả cho công của nhà tư bản đã tạo công ăn việc làm cho người lao động tạo đà phát triển cho xã hội giảm tỷ lệ thất nghiệp đỡ tránh các tệ nạn do bần cùng hóa xã hội như: ăn xin trộm cắp thất học buôn gian bán lậu...
* m10: thuế. Tại sao phải đóng thuế? Các sắc thuế ngoài việc thu về các phần đóng góp của quốc gia trong hoạt động của doanh nghiệp còn có ý nghĩa điều tiết lại giá trị thặng dư nhà tư bản đã bóc lột nhân công (nếu có)
* m11: của người lao động 

 

1 - Cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa
C. Mác đã vạch ra rằng tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư rằng: "Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động tự do hay không tự do đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất". Quy luật kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất được thực hiện dưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hình thái xã hội khác nhau.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thể vào giai cấp chủ nô thì ngoài việc bị bóc lột lao động thặng dư nô lệ còn bị chiếm một phần lớn sản phẩm cần thiết của giai cấp nô lệ. Trong chế độ phong kiến giai cấp nông nô đã có một phần tự do về thân thể đối với giai cấp địa chủ và chế độ bóc lột lao động thặng dư biểu hiện dưới hình thức bóc lột địa tô lao động thặng dư và lao động cần thiết được phân chia rõ ràng. Bởi vậy theo C. Mác cơ chế bóc lột thời phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ.
Giai cấp tư sản bước lên vũ đài lịch sử cũng là giai cấp độc chiếm tư nhân những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Khác với cơ chế bóc lột trong hai hình thái kinh tế - xã hội trước chủ yếu dựa trên quan hệ hiện vật cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa dựa trên quan hệ giá trị; nói cách khác là quan hệ trao đổi những vật ngang giá (tức là tuân theo quy luật giá trị). Quan hệ này che dấu sự bóc lột trong một cơ chế trao đổi với vẻ bề ngoài như là tự do và bình đẳng chính vì vậy mà các nhà kinh tế học trước C. Mác đã không thành công trong việc lý giải bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa.
A. Smith và D. Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt bề ngoài rằng mua bán giữa tư bản và công nhân hình như là mua bán lao động nên cả hai ông đều gặp bế tắc trong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận. Chẳng hạn nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật như vậy là công nhân bán hàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định là thước đo của mọi giá trị thì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó. Mặt khác nếu mua bán lao động mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tại của lợi nhuận nhưng thực tế lợi nhuận tồn tại một cách khách quan. Vậy theo các cách giải thích đó quy luật giá trị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận và ngược lại.
C. Mác đã phát hiện rằng quan hệ mua bán giữa công nhân và tư bản không phải là mua bán hàng hóa lao động mà là mua bán một loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động. Hàng hóa này có giá trị và giá trị sử dụng khác với các hàng hóa thông thường. Giá trị của hàng hóa sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết để tái sản xuất sức lao động của công nhân và bao hàm những yếu tố tinh thần lịch sử và dân tộc... - Giá trị sử dụng của hàng hóa này (tức là tiêu dùng nó trong quá trình sản xuất) có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của chính nó là sức lao động. Do đó dù nhà tư bản trả đủ giá trị sức lao động cho công nhân trên cơ sở trao đổi ngang giá thì vẫn thu được phần giá trị dôi ra biến thành lợi nhuận. Như vậy quy luật giá trị và quy luật sản xuất ra lợi nhuận không phủ định lẫn nhau mà song song tồn tại: trao đổi giữa tư bản và công nhân tuân theo quy luật ngang giá (quy luật giá trị sức lao động) nhưng nhà tư bản vẫn thu được phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động; phần dôi ra đó được C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Như vậy bóc lột lao động thặng dư biểu hiện thành bóc lột giá trị thặng dư là quy luật bóc lột đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó.
Tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến hay tỷ số giữa lao động thặng dư và lao động cần thiết là tỷ suất giá trị thặng dư; tỷ suất đó nói lên mức độ bóc lột giai cấp công nhân. Giá trị thặng dư có biểu hiện bề ngoài là một số tiền dôi ra ngoài tư bản ứng trước; số tiền đó có tên gọi là lợi nhuận. Phạm trù lợi nhuận che dấu quan hệ bóc lột vì nó làm cho người ta dễ lầm tưởng là con đẻ của tư bản ứng trước (c + v) chứ không phải là con đẻ của tư bản khả biến (v).
Tổng số giá trị thặng dư bóc lột được phân chia thành các loại thu nhập ăn bám trong xã hội tư bản: lợi nhuận công nghiệp lợi nhuận thương nghiệp lợi nhuận ngân hàng; nó còn được phân chia nhỏ hơn nữa thành lợi nhuận doanh nghiệp lợi tức cho vay v.v.. Quá trình phân chia đó tuân thủ theo quy luật cạnh tranh bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Giá trị thặng dư còn phải phân chia cho chủ sở hữu ruộng đất dưới hình thức địa tô. Như vậy tổng số giá trị thặng dư do toàn bộ giai cấp vô sản công nhân tạo ra trong các ngành sản xuất bị toàn bộ giai cấp tư bản và địa chủ phân chia nhau trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng.
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền đỉnh cao của nó là độc quyền nhà nước là chủ nghĩa đế quốc đã có nhiều biến đổi trong hình thức và cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa. Quy luật sản xuất giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong thời kỳ tự do cạnh tranh thì nay trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nó biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận độc quyền cao; quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất trong thời kỳ tự do cạnh tranh nay biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền với hệ thống giá bán độc quyền cao giá mua độc quyền thấp do tư bản độc quyền can thiệp và áp đặt v.v.. Những bộ phận cấu thành lợi nhuận độc quyền cao là: lao động thặng dư thậm chí một phần lao động cần thiết của công nhân trong xí nghiệp độc quyền; một phần lao động thặng dư của các xí nghiệp nhỏ và vừa do xí nghiệp độc quyền xén bớt thông qua hệ thống giá cả độc quyền; lao động thặng dư thậm chí một phần lao động cần thiết của nông dân và thợ thủ công cũng bị bóc lột thông qua hệ thống giá cả độc quyền; phần quan trọng là siêu lợi nhuận thuộc địa dựa trên sự bóc lột nặng nề lao động thặng dư và một phần lao động cần thiết của nhân dân lao động ở những nước thuộc địa hay phụ thuộc.
Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật và của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước cơ chế bóc lột đã trở nên phức tạp và tinh vi hơn (chủ nghĩa Taylo chủ nghĩa Fayol chủ nghĩa Ford chủ nghĩa Ford mới v.v. lần lượt xuất hiện để biện minh cho tính công bằng sòng phẳng trong quan hệ giữa tư bản với lao động). Trên thực tế trong chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày càng có nhiều thủ đoạn và hình thức bòn rút lợi nhuận tinh vi để không ít người còn lầm tưởng đến một thứ chủ nghĩa tư bản mới "nhân văn" hơn trước đây như "chủ nghĩa tư bản nhân dân" "xã hội tham dự"... Điều không thể che dấu được đó là sự hình thành một tầng lớp tư sản ăn bám quý tộc thực lợi tài phiệt; sự thao túng có tính chất toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế; sự xuất hiện của cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế; sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây giữa các nước giàu với các nước nghèo...
2 - Đào sâu sự phân cực xã hội - hệ quả tất yếu của quy luật bóc lột tư bản chủ nghĩa
Sự phân hóa xã hội thành giai cấp không lao động nhưng giàu có đầy quyền lực thống trị áp bức đa số người trong xã hội và giai cấp lao động sản xuất ra của cải xã hội nhưng nghèo khổ bị tước mọi quyền và bị áp bức là sản phẩm tất yếu của mọi xã hội có chế độ người bóc lột người.

 

 (Các) nguồn

 

More...

Câu 05:Chủ nghĩa tư bản độc quyền và TBCN độc quyền nhà nước

By luctranvan

Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền (Phần I)


A)Tập Trung Sản Xuất Và Các Tổ Chức Độc Quyền:

Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.
Trong những năm 1900 ở Mỹ Đức Anh Pháp đều có tình hình là các xí nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp nhưng chiếm hơn ¾ tổng số máy hơi nước và điện lực gần một nửa tổng số công nhân và sản xuất ra gần một nửa tổng số sản phẩm. Sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền. Bởi vì một mặt do có một số ít các xí nghiệp lớn nên có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác các xí nghiệp có quy mô lớn kĩ thuật cao nên cạnh tranh sẽ rất gay gắt quyết liệt khó đánh bại nhau do đó dễ dẫn đến khuynh hướng thỏa hiệp với nhau để nắm độc quyền.
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào đó nhằm mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa các liên minh độc quyền hình thành theo liên kết ngang nghĩa là mới chỉ liên kết những doanh nghiệp trong cùng một ngành nhưng về sau theo mối liên hệ dây chuyền các tổ chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc mở rộng ra nhiều ngành khác nhau. Những hình thức độc quyền cơ bản là: cácten xanhđica tơrớt côngxoócxiom cônggơlômêrát.
Cácten là hình thức tổ chức độc quyền giữa các nhà tư bản kí hiệp nghị thỏa thuận với nhau về giá cả quy mô sản lượng thị trường tiêu thụ kì hạn thanh toán .v.v...
Các nhà tư bản tham gia cácten vẫn độc lập về sản xuất và thương nghiệp. Họ chỉ cam kết làm đúng hiệp nghị nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo quy định của hiệp nghị. Vì vậy cácten là liên minh độc quyền không vững chắc. Trong nhiều trường hợp những thành viên thấy ở vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi cácten làm cho cácten thường tan vỡ trước kì hạn.

Xanhđica là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn ổn định hơn cácten. Các xí nghiệp tham gia xanhđica vẫn giữ độc lập về sản xuất chỉ mất độc lập về lưu thông: mọi việc mua - bán do một ban quản trị chung của xanhđica đảm nhận. Mục đích của xanhđica là thống nhất đầu mối mua và bán để mua nguyên liệu với giá rẻ bán hàng hóa với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
Tớrớt là một hình thức độc quyền cao hơn cácten và xanhđica nhằm thống nhất cả việc sản xuất tiêu thụ tài vụ đều do một ban quản trị quản lý. Các nhà tư bản tham gia tờrớt trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần.

Côngxoócxiom là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ và quy mô lớn hơn các hình thức độc quyền trên. Tham gia côngxoócxiom không chỉ có các nhà tư bản lớn mà còn cả các xanhđica tờrớt thuộc các ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế kĩ thuật. với kiểu liên kết dọc như vậy một côngxoócxiom có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch sù.

B) Tư Bàn Tài Chính Và Bọn Sỏ Đầu Tài Chính

Cùng với quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công nghiệp cũng diễn ra quá trình tích tụ tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Quy luật tích tụ tập trung tư bản trong ngân hàng cũng giống như trong công nghiệp do quá trình cạnh tranh của các ngân hàng vừa và nhỏ bị thôn tính dẫn đến hình thành những ngân hàng lớn. khi sản xuất trong các ngành công ngiệp ở mức độ cao thì trong các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực và uy tín phục vụ cho công việc kinh doanh của các xí nghiệp công nghiệp lớn.
Các tổ chức độc quyền này tìm kiếm các ngân hàng lớn hơn thích hợp với các điều kiên tài chính và tín dụng của mình. Trong điều kiện đó các ngân hàng nhỏ phải tự xác nhập vào các ngân hàng mạnh hơn hoặc phải chấm dứt sự tồn tại của mình trước quy luật khốc liệt của cạnh tranh.
Quá trình này thúc đẩy các tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.

- Sự suất hiện phát hiện của các tổ chức độc quền trong ngân hàng đã làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò mới. Ngân hàng từ chỗ chỉ là trung gian trong việc thanh toán tín dụng nay đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên có quyền lực vạn năng khống chế mọi hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Dựa trên địa vị của người chủ cho vay độc quyền ngân hàng cử đại diện của mình vào các cơ quan quản lí của độc quyền công nghiệp để theo dõi việc sử dụng tiền vay hoặc trực tiếp đầu tư vào công nghiệp. Trước sự khống chế và chi phối ngày càng xiết chặt của ngân hàng một quá trình xâm nhập tương ứng trở lại của các độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra.Các tổ chức độc quyền công nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ phần của ngân hàng lớn dể chi phối hoạt động của ngân hàng hoặc lập ngân hàng riêng phục vụ cho mình. Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và trong ngân hàng xoắn xuýt với nhau và thúc đẩy lẫn nhau làm nảy sinh một số tư bản mới gọi là tư bản tài chính.
V.I. Lenin nói: "Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp".
Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn bộ xã hội tư bản gọi là bọn đầu xỏ tài chính.
- Bọn đầu xỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự. Thực chất của chế độ tham dự là một nhà tài chính lớn hoặc một tập đoàn tài chính nhờ có số cổ phiếu khống chế mà nắm được một công ty lớn nhất với tư cách là công ty gốc (hay là "công ty mẹ");công ty này lại mua được cổ phiếu khống chế thống trị được công ty khác gọi là "công ty con"; "công ty con" đến lượt nó lại chi phối các "công ty cháu" cũng bằng cách như thế...
Nhớ có chế độ tham dự và phương pháp tổ chức tập đoàn theo kiểu móc xích như vậy bằng một lượng tư bản đầu tư nhỏ các nhà tư bản độc quyền tài chính có thể khống chế và điều tiết được một lượng tư bản lớn gấp nhiều lần.
Ngoài "chế dộ tham dự" bọn dầu xỏ tài chính sử dụng những thủ đoạn như: lập công ty mới phát hành trái khoán kinh doanh công trái đầu cơ chứng khoán ở sở giao dịch đầu cơ ruộng đất ... để thu đươc lợi nhuận và độc quyền cao.
- Thống trị về kinh tế là cơ sở để bọn đầu xỏ tài chính thống trị về chình trị và các mặt khác. Về mặt chính trị bọn đầu xỏ tài chính chi phối mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước biến nhà nước tư sản thành công cụ phục vụ lợi ích cho chúng. Sự thống trị của bọn tài phiệt đã làm nảy sinh chủ nghĩa phát xít chủ nghỉa quân phiệt va nhiều thứ chủ nghĩa phản động khác cùng chạy đua vũ trang gây chiến tranh xâm lược để áp bức bóc lột các nước đang phát triển và chậm phát triển.


Nguồn: sưu tầm

 

 


Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước


1/ Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư bản thành một thiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản

Ở đây nhà nước tư bản xuất hiện như một chủ sở hữu tư bản một nhà tư bản xã hội đồng thời lại là người quản lý xã hội bằng pháp luật với bộ máy bạo lực to lớn.

Như vậy chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh tế chính trị xã hội chứ không chỉ là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản.

2/ Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Thứ nhất tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung tư bản càng cao do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối một sư kế hoạch hóa tập trung từ một trung tâm. Nói cách khác sự phát triển hơn nữa của trình độ xã hội lực lượng sản xuất đã đến yêu cầu khách quan là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền kinh tế.

Thứ hai sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản không thể hoặc không muốn kinh doanh đầu tư vì vốn đầu tư lớn thu hồi vốbn chậm ít lợi nhuận nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng GTVT...

Thứ ba sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp tư sản với gia cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước phải có những chính sách xoa dịu những mâu thuẩn đó như trợ cấp thất nghiệp điều tiết thu nhập quốc dân phá triển phúc lợi xã hội.....

Thứ tư cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế sự bành trướng của các liên minh độc quyền quốc tế vẫn vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đốt lợi ích với các đối thủ trên thị trường. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế; nhà nước tư sản có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các quan hệ đó.

3/ Những hình thức chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền

a/ Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản

VI Lênin đã từng nhấn mạnh sự liên minh về nhân sự của các ngân hàng với công nghiệp được bổ sung bằng sự liên minh về nhân sự của ngân hàng và công nghiệp với chính phủ theo kiểu: Hôm nay là bộ trưởng ngày mai là chủ ngân hàng. Hôm nay là chủ ngân hàng ngày mai là bộ trưởng.

Sự kết hợp về nhân sự thực hiện thông qua các đảng phái tư sản. Chính các đảng phái này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước.

b/ Sự hình thành và phát triển của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống nhưng nét nổi bật nhất là sức mạnh của nhà nước và độc quyền kết hợp với nhau trong lĩnh vực kinh tế và nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình tái sản xuất xã hội. Cơ sở của những biện pháp độc quyền nhà nước trong kinh tế là sự thay đổi các quan hệ sở hữu. Nó biểu hiện không những ở chổ sở hữu nhà nước tăng lên mà cả ở sự tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền tư bản tư nhân hai sở hữu này đan kết với nhau trong quá trình chu chuyển của tổng tư bản xã hội.

Sở hữu nhà nước hình thành dưới những hình thức sau:

+ Xây dựng các doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách;

+ Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản tư nhân bằng cách mua lại;

+ Nhà nước mua cổ phiếu của các xí nghiệp tư nhân

+ Mở rộng các doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các doanh nghiệp tư nhân.

c/ Sự điều tiết kinh tế của nhà tư bản

Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh và cơ chế độc quyền tư nhân đều có những tác động tích cực và tiêu cực. Bởi vậy khi nào và ở đâu mà trính độ xã hội hóa lực lượng sản xuất đã vượt quá giới hạn điều tiết của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thỉ tất yếu đòi hỏi bổ sung bằng sự điều tiết của nhà nước. Bản thân sự điều tiết của nhà nước cũng có những mặt tích cực và tiêu cực. Vì thế hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả ba cơ chế: thị trường độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế

Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức: hướng dẫn kiểm soát uốn nắn những lệch lạc bằng các công cụ kinh tế và các công cụ hành chánh - pháp lý bằng cả ưu đãi và trừng phạt; bằng những giải pháp chiến lược dài hạn như lập chương trình kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế khoa học công nghệ bảo vệ môi trường ...và bằng những giải pháp ngắn hạn như chống khủng hoảng tài chính tiền tệ lạm phát ...

Tùy theo học thuyết kinh tế được vận dụng hệ thống điều tiết kinh tế ở mỗi nước có những nét khác nhau: - còn được gọi là "mô hình thể chế kinh tế"-như "mô hình trọng cầu" "mô hình trọng cung" "mô hình trọng tiền"..... các chính sách kinh tế của nhà nước tư sản là biểu hiện quan trọng nhất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.

Như vậy chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước nảy sinh là một tất yếu kinh tế đáp ứng yêu cầu xã hội hóa cao độ của các lực lượng sản xuất trong khuôn khổ chế độ tư bản đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhưng vẫn vấp phải những giới hạn và mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản không vượt qua được.

Nguồn: sưu tầm

 

 

Chủ nghĩa tư bản ngày nay


1/ Những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền

a/ Tập trung sản xuất và hình thức độc quyền mới: sự xuất hiện những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ. Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Với 57.000 công ty mẹ và 500.000 chi nhánh các công ty xuyên quốc gia đang kiểm soát 80% công nghệ mới 40% nhập khẩu 60% xuất khẩu 90% đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ví dụ công ty GMC của Mỹ năm 1992 có doanh số 132 tỷ sử dụng gần 1 triệu lao động 136 chi nhánh ở hơn 100 nước trên thế giới.

Mặt khác trong các nước tư bản lớn lại phát triển rất nhiều các công ty vừa và nhỏ. Do việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật cho phép chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng => hình thành hệ thó6ng gia công nhất là trong các ngành sản xuất ôtô máy bay đồ điện cơ khí.... Bên cạnh đó do ưu thế những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường.....

b/ Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính.

Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế mới. Đặc biệt là các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP. Thích ứng với sự biến đổi đó hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính đã thay đổi. Sự thay đổi đó diễn ra ngay trong quá trình thâm nhập vào nhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp. Ngày nay phạm vi liên kết được mở rộng ra nhiều ngành do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới hình thức những tổ hợp kiểu công - nông - thương - tín - dịch vụ hay công nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc phòng. Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn tinh vi hơn phức tạp hơn. Thí dụ: ngân hàng cho tư bản công nghiệp vay vốn và bảo đảm tín dụng cho nó kinh doanh có lợi cùng hưởng rủi ro thất bại cùng chia sẽ. Hoặc ngân hàng mua sắm các phương tiện sản xuất hiện đại đắt tiền và cho rồi cho các doanh nghiệp thuê gọi là cho thuê tài chính như máy móc hệ thống vi tính....

Cơ chế thị trường của tư bản tài chính cũng biến đổi cổ phiếu mệng giá nhỏ được phát hành rộng rãi khối lượng cổ phiếu tăng nhiều tầng lớp dân cư mua cổ phiếu.

c/ Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của độc quyển quốc tế sau chiến tranh nhưng quy mô chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới.

d/ Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế hóa toàn cầu hóa ngày càng tăng bên cạnh xu huớng khu vực hóa nền kinh tế. EU NAFTA ASEAN APEC....

e/ Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới.

Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực dân mới đã suy yếu nhưng các cường quốc tư bản chủ nfghĩa khi ngấm ngầm lúc công khai vẫn tranh giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện" chiến lược biên giới mềm" ra sức bành trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên giới địa lý ràng buộc chi phối các nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn công nghệ đi đến sự phụ thuộc về chính trị vào các cường quốc.

Tóm lại: dù có nhữ ng biểu hiện mới CNTB đương đại vẫn là CNTB độc quyền. Những biếu hiện mới đó chỉ là sự phát triển năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền mà Lênin đã vạch ra từ những năm đầu thế kỷ.

2/ Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

a/ Sự điều tiết của nhà nước kết hợp với cơ chế thị trường cạnh tranh tự do và tính năng động của chủ nghĩa tư bản độc quyền tư nhân.

Hạn chế sự quan liêu của nhà nước xác định lại sự trợ cấp của nhà nước thực hiện tư nhân hóa khu vực kinh tế nhà nước với quy mô lớn ở nhiều nước. Điều đó là do nhu cầu tăng khả năng cạnh tranh của các doanh ngiệp trong nền kinh tế quốc dân do tình trạnh nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả. Tuy nhiên chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ngày nay không chủ trương xóa bỏ khu vực kinh tế nhà nước mà chỉ thu hẹp duy trì doanh nghiệp nhà nước ở mức độ thích hợp để quản lý kinh tế vĩ mô........

b/ Phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt hơn mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn

Điều tiết bằng chương trình và kế hoạch

Điều tiết thị trường tài chính tiền tệ chống lạm phát điều tiết giá cả.....

Điều tiết quan hệ kinh tế đối hệ thống tài chính tính dụng quốc tế......

IV/ Những thành tựu hậu quả và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản

1/ Những thành tựu chủ nghĩa tư bản đạt được

- Lực lượng sản xuất phát triển cao nhất hiện nay là ở các nước tư bản phát triển. Các nước này đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Năm nội dung chính của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là : cách mạng vi điện điện tử khoa học cách mạng trong lĩnh vực năng lượng cácch mạng trong lĩnh vực vật liệu mới cách mạng sinh học cách mạng trong lĩnh vực công cụ sản xuất ( Robot thế hệ thứ V ).

Hầu hết các nước tư bản phát triển đã đạt tới trình độ phát triển cao của khoa học và kỹ thuật nền kinh tế phát triển cao. Vì vậy Mác noí: chủ nghĩa xã hội chỉ thắng lợi khi nó tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản.

- Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có nhiểu thay đổi:

+ Đa dạng hóa hình thức sở hữu sở hữu nhà nước ngày càng gia tăng sở hữu hỗn hợp là phổ biến.

+ Tổ chức sản xuất mang tính toàn cầu thể hiện hệ thống tài chính mang tính toàn cầu. Một nước bị khủng hoảng là lan ra khắp thế giới.

+ Quan hệ phân phối có nhiều biến đổi các nước tư bản hiện nay đã đưa ra được công nghệ phân phối tốt động viên được mọi nguồn lực phát triển khoa học và kinh tế. Có hai cách phân phối là phân phối theo cơ chế thị trường và phân phối bằng nhà nước tức là phải có chính sách phân phối chế độ phân phối gọi chung là công nghệ phân phối. Người giàu là phổ biến người nghèo là thiểu số quan hệ chủ tớ thay đổi quyền con người đuợc đề cao.

- Kiến thúc thượng tầng: đời sống tinh thần xã hội xuất hiện nhiều thành tựu văn minh mới bao gồm: tiêu chí về xã hội và giai cấp thay đổi. Đánh giá con người dựa trên trình độ sở hữu và nắm giữ thông tin khoa học và sở hữu trí tuệ đặt lên hàng đầu.

- Xu hướng đầu tư cho con người được đề cao.

- Sự tồn tại trong quan niệm và trong thực tế về nhà nước phúc lợi chung.

Đáng giá chung: Những thành tựu của chủ nghĩa tư bản đối với lịch sử: CNTB đã đưa loài người từ xã hội thần dân sang xã hội công dân là một bước tiến của lịch sử.

Chủ nghĩa tư bản đưa con người đến đỉnh cao của trí tuệ và văn minh. Đến chủ nghĩa tư bản hôm nay con người mới hạnh phúc nhất. Giúp con người hiểu rõ hơn về xã hội chủ nghĩa văn minh lí tưởng của nhân loại. Xã hội lý tưởng đó sẽ ra đời từ xã hội tư bản với trình độ cao nhất và văn minh nhất.

Tuy nhiên mặt khác CNTB cũng đưa con người xuống vực thẳm của địa ngục

2. Những hậu quả chủ nghĩa tư bản gây ra

- Tội ác về chiến tranh và chạy đua vũ khí : Cuộc chiến tranh thế giới lần I (1914-1918) để chia lại thuộc địa của các nước đế quốc đã lôi kéo 38 nước trên thế giới tham gia huy động 37 triệu quân và đã làm 10 triệu người chết 20 triệu bị thương trong đó 20% là dân thường. Chiến tranh thế giới lần 2 (1939- 1945) lúc đầu là cuộc chiến tranh đế quốc sau đó chuyển thành cuộc chiến tranh chống phát xít đã lôi kéo 72 nước của bốn châu lục tham gia huy động 110 triệu quân chính quy làm cho gần 55 triệu người chết trong đó 50% là thường dân ( Liên xô:22 triệu Đức 15 triệu Ba lan: 6 triệu).

Chiến tranh lạnh do chủ nghĩa đế quốc khởi xướng và diễn ra trong 5 thập kỷ là thời kỳ căng thẳng chạy đua vũ trang lớn nhất trong lịch sử loài người. Sau chiến tranh lạnh kết thúc xung đột vũ trang tiếp tục tăng lên. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh bình quân trên thế giới có 4 3 cuộc xung đột vũ trang trong một năm. Tính từ 1975 đến 1998 trên thế giới xảy ra 150 cuộc chiến tranh cục bộ làm 30 triệu người chết.

Trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh những mâu thuẫn dân tộc sắc tộc tôn giáo phức tạp phát triển.

- Tội các gây ra sự nghèo khổ lạc hậu của nhân dân các nước chậm phát triển: Bản tuyên ngôn cuộc họp nhóm 15 tại Giamaica đã vạch rõ: " do kết quả vòng đàm phán Urugoay về thương mại thế giới; Hoa kỳ thu lợi được 100 tỷ USD EU thu lợi được 55 tỷ USD và Nhật Bản thu lợi được 45 tỷ USD. Ngược lại hơn 50 nước đang phát triển bị thiệt hại ngang bằng con số ấy. Theo thống kê của LHQ 48 nước kém phát triểnnnhất thế giới chiếm 10% dân số nhưng chỉ chiếm 0 1% GDP thế giới. Trong khi đó nhóm G7 chỉ chiếm 20% dân số thế giới nhưng chiếm 62 5 GDP thế giới. Năm 1997 20% dân số giàu nhất thế giới chiếm 86% GDP 82 % xuất khẩu hàng hóa 68 % đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi đó 20% dân số nghèo nhất thế giới chỉ chiếm 1% GDP 1% XK 1%FDI.

Thế giới hiện nay có hơn 830 triệu người thiếu ăn ngay tại các nước phát triển cũng có đến trên 100 triệu người sống dưới mức nghèo khổ.

- Tội ác ngay tại các nước tư bản phát triển: thất nghiệp bạo lực tệ nạn xã hội...

- Môi trường thế giới đang bị tàn phá nặng nề.

Kết luận:

- Ngày nay cả thế giới đang hướng tới một nền văn minh mới- xã hội cộng sản một cách hiện thực hơn và thực tiễn hơn. Khi nào chủ nghĩa công sản tạo ra được một năng suất lao động lớn hơn năng suất lao động của CNTB hiện nay...

- CNTB ngày nay còn đang phát triển và có khả năng tự điều chỉnh để phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vẫn chưa giải quyết.

- CNTB hiện tại là sự chuẩn bị đầy đủ nhất về vật chất và tinh thần cho xã hội chủ nghĩa của loài người.

Các Mác và Ăngghen đã chỉ rõ: "đối với chúng ta chủ nghĩa công sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra không phải là lý tưởng mà hiện thực phải tuân theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa công sản là một phong trào hiện thực nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện tại tạo ra"


Nguồn: sưu tầm


 

More...

Câu 03: Thảo luận_CNH - HDH

By luctranvan

Sửa|Xóa| Điểm:

Sửa|Xóa

  Trong lịch sử một số nước đã tiến hành công nghiệp hóa bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII. Cách mạng công nghiệp được tiến hành sớm nhất ở các nước Tấy Âu mà mở đầu là nước Anh bằng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Thực chất của công nghiệp hóa hiện đại hóa trong thời kì đó là chuyển nền kinh tế nông nghiệp sử dụng lao đông thủ công sang nền kinh tế công nghiệp sử dụng lao động máy móc .

  Đó là quan điểm của các nước Tây Âu thế còn quan điểm về CNH -HDH của đảng và nhà nước ta thì sao:

    Theo Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ bảy khóa VI và Đại hội đại biểu tòa quốc lần thứ VII Đảng cộng sản VN (12/1986) đã xác định: Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh quản lý kinh tế xã hội từ dựa vào lao động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện phương pháp công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao.

    Vậy vấn đề đặt ra ở đây là hai quan điểm này có sự khác nhau hay không ?

    Như chúng ta đều hiểu khái niệm CNH -HDH mang tính lịch sử tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội của khoa học công nghệ và của hình thái kinh tế ở đây về  bản chất thì hai quan điểm này đều giống nhau (đều là quá trình chuyển từ lao động thủ công với công cụ lao động thô xơ sang lao động máy móc hiện đại) nhưng chúng có điểm khác biệt là những điều kiện hoàn cảnh đưa ra những quan điểm này:            

    + Ở các nước tây âu tiến hành công nghiệp hiện đại hóa khi đang duy trì nền kinh tế TBCN

    + Còn ở nước ta thì khác VN tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa trong thời kì quá độ lên CNXH từ một nước nông nghệp lạc hậu với nền kinh tế kém phát triển. nước ta đã tiến hành đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn TBCN nên quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam mang những sắc thái riêng.

Chúng ta cùng đi sâu tìm hiểu quan điểm của đang và nhà nước ta về CNH-HDH:

   Quan niệm về công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay có những điểm mới so với quan niệm về cnh- hdh truớc khi đổi mới. Do những biến đổi cua nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể cuả đất nước cnh- hdh ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây: 

   Thứ nhất công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa. Nước ta tiến hành công nghiệp hóa trong điều kiện thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ và một số nước bắt đầu phất triển nền kinh tế tri thức bởi vậy không chỉ chuyển lao động thủ công thành lao đông cơ khí hóa mà còn phải tranh thủ ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại.

   Thứ hai công nghiệp hóa trước đây tiến hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ngày nay công nghiệp hóa hiện đại hóa thiến hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng thị trường phản ánh nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội sẽ quyết định phân bổ các nguồn lực cho sản xuất hình thành cơ cấu kinh tế mới lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm thước đo.

   Thứ ba công nghiệp hóa trước đây dược coi là việc riêng của nhà nước; ngày nay công nghiệp hóa hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ của toàn dân của mọi thành phần khinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. phải tuyên truyền phát động tổ chức để toàn dân mọi thành phần kinh tế tham gia tích cức vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa.

   Nhưng mốn cnh-hdh tiến nhanh phát triển đúng hướng phải tăng cường sức mạnh kinh tế nhà nước làm cho kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo thể hiện ở tiềm lực kinh tế năng suất lao động hiệu quả sản xuất kinh doanh có khả năng hướng dẫn chi phối nền kinh tế quốc dân.

   Thứ tư công cuộc cnh-hdh phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. trong mọi chủ trương chings sách phải nhằm giải phóng mọi tiềm năng của con người thường xuyên quan tâm bồi dưỡng trí lực thể lực sử dụng nhân tài.nâng cao đời sống vật chất văn hóa của nhân dân phát triển văn hóa giáo dục thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đông viên toàn dân cần kiệm để công nghiệp hóa đát nước.

   Thứ năm trước đay trên thực tế đã xây dựng một nền kinh tế khép kín hướng vào ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Ngày nay xây dựng một nền kinh tế mở cả trong nước với bên ngoài đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền; kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh vào xuất khẩu thay thế nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.

   Thư sáu phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển lựa chon dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. Lựa chọn dự án đầu tư với những quy mô thích hợp với từng ngành từng lĩnh vực từng địa phương ưu tiên những dự án có quy mô nhỏ và vừa đòi hỏi ít vốn tạo nhiều vịc làm và thu hồi vốn nhanh.

 

thảo luận kinh tế chính trị

Sửa|Xóa| Điểm:

Sửa|Xóa

Nhật Bản

 

Cho đến nay theo thống kê của Liên hợp quốc trên thế giới có khoảng 30 nước đã hoàn thành công nghiệp hoá. Một lợi thế lớn cho những nước đi sau là có sẵn vô vàn những bài học thành công và thất bại của những nước đi trước. Kinh nghiệm từ những nước thành công cho thấy con người mới là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Một trong số những nước đó phải kể tới Nhật Bản.

Các nhà nghiên cứu thường lấy năm khởi đầu của cải cách Minh Trị (1868) là thời điểm xuất phát của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Nhật Bản. Trước nhiều sức ép đảo quốc này được buộc phải mở cửa coi việc học tập phương Tây là con đường duy nhất thoát ra khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu. Khẩu hiệu của họ lúc ấy là "phú quốc cường binh" với hy vọng xây dựng được một đất nước giàu có quân đội hùng mạnh thì sẽ thoát ra khỏi hiểm họa xâm lăng của chủ nghĩa thực dân. Có thể nói rằng quá trình công nghiệp hoá của họ đã khởi đầu từ một mong muốn chủ quan chịu tác động trực tiếp của nhân tố con người.

Những thành tựu mà châu Âu đã đạt được trong thời kỳ công nghiệp hoá có thể do nhiều nguyên nhân nhưng trực tiếp là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản lấy sự giải phóng cá nhân làm động lực sáng tạo lấy cạnh tranh để kích thích phát triển. Những tác nhân quan trọng đó của quá trình công nghiệp hoá ở phương Tây dường như không phù hợp với những giá trị văn hoá truyền thống của Nhật Bản.
t trong những đặc trưng của văn hoá Nhật Bản khác với phương Tây là tính chất cộng đồng khép kín trong ứng xử xã hội tính cạnh tranh cá thể tương đối yếu. Với đặc trưng khi buộc phải mở cửa để học tập và tiếp thu văn minh phương Tây người Nhật không khỏi ngỡ ngàng lúng túng. Nếu chỉ rập khuôn những bước đi mà châu Âu đã trải qua cố gắng xây dựng một xã hội lấy cá nhân làm trung tâm khuyến khích phát triển cạnh tranh như kiểu phương Tây thì chắc hẳn không có một nước Nhật như đã thấy trong lịch sử cận đại. Họ tìm ra con đường đi riêng của mình phát huy đến mức tối đa sức mạnh văn hoá dân tộc mà họ có giảm thiểu đến mức thấp nhất những hạn chế vốn có trong tính cách dân tộc.

 Một bên gay gắt phê phán văn hoá dân tộc là bảo thủ lạc hậu và cho rằng nước Nhật muốn tiến lên phải học tập phương Tây vô điều kiện tiếp nhận không hạn chế văn hoá châu Âu. Điển hình cho quan điểm này là Arinori Mori (1847 - 1889). Ông đã đề xuất với chính phủ biện pháp nhằm xoá bỏ nhiều chuẩn mực văn hoá truyền thống mà ông cho là cổ hủ cản trở quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Thậm chí ông còn là người cổ xuý cho việc bỏ hoàn toàn tiếng Nhật để thay vào đó là tiếng Anh vì theo ông tiếng Nhật quá phức tạp khó hội nhập. Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng này đã có thời người Nhật rất tích cực cổ vũ cho tư tưởng "thoát Á nhập Âu" muốn nhanh chóng biến nước Nhật thành một quốc gia với những chuẩn mực châu Âu. Trái ngược với A. Mori có một khuynh hướng do N. Motoda đứng đầu lại lo sợ bản sắc văn hoá dân tộc có thể bị tiêu diệt. Họ phản đối kịch liệt việc du nhập ồ ạt văn minh phương Tây đề cao đến mức cực đoan những giá trị văn hoá truyền thống. Sự đối nghịch ấy có lúc đã gây nên tình trạng rối loạn trong tư tưởng và xã hội.

Nhưng cũng nhờ sự cọ xát của những quan điểm cực đoan ấy người Nhật đã dần dẫn nhận ra phương thức cần thiết cho họ. Một trào lưu thứ ba xuất hiện dung hoà cả hai quan điểm trên với những gương mặt tiêu biểu là Yukichi Eukuzawa và Keyu Nakamura. Khác với khuynh hướng cực đoan Yukichi Fukuzawa và Keyu Nakamura một mặt thừa nhận những hạn chế lạc hậu của văn hoá truyền thống nhưng lại coi đó chính là cái nền để hiện đại hoá Nhật Bản. Không thể thay thế nó bằng một nền văn hoá khác. Từ những tư tưởng đó người Nhật đã tìm ra một phương châm chung cho công cuộc cải cách của họ gói gọn trong 4 chữ Hoà Thần Dương Khí (tinh thần/thần thái Nhật Bản kết hợp với khí cụ/ phương thức Tây phương). Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên vốn quý nhất chỉ có con người (cho đến tận ngày nay họ vẫn tiếp tục giáo dục các thế hệ thanh thiếu niên theo tinh thần đó). Nhưng đồng thời cũng chính ông đã phát hiện ra rằng trong văn hoá truyền thống của mình có rất nhiều hạn chế một trong số đó là người Nhật Bản dường như không có khả năng sáng tạo lớn. Hầu hết các phát triển minh (nghề trồng lúa nước làm gốm sức đúc đồng làm giấy nghề in...) họ đều học từ nước ngoài. Coi đó là những căn tính dân tộc dù không thích nói tới nó vẫn hiện hữu người Nhật có chủ trương không đua phát minh với thế giới mà luôn tìm hiểu xem trên từng lĩnh vực đâu là đỉnh cao rồi cố công học theo. Sau đó họ mới nghiền ngẫm tìm ra những yếu tố (dù là rất nhỏ) có thể cải biến. Đến đây họ lại phát huy được thế mạnh của óc quan sát tỉ mỉ và sự tinh tế vốn có của văn hoá dân tộc. Chính vì vâỵ mà sản phẩm của Nhật Bản khi làm ra chẳng những không thua kém gì những nơi đã phát minh ra nó mà hơn thế còn có những yếu tố cải tiến làm hài lòng người tiêu dùng. Điều quan trọng là trước khi cải tiến người Nhật luôn tìm cách học "hết chữ của thầy.

Nhân tố con người được người Nhật khai thác triệt để trong việc tổ chức công ty và các xí nghiệp sản xuất. Tiến sĩ Wiliam Ouchi giáo sư trương đại học Los Anggeles (Mỹ) đã từng nhận xét: Người phương Tây chúng ta có ý thức thuộc về công nghệ và khoa học nhưng không hề có sự thay đổi quan niệm về con người.Chính phủ có thể cấp hàng trăm triệu đôla cho nghiên cứu khoa học ủng hộ sự phát triển của những tư tưởng kinh tế phức tạp nhưng trong thực tế không bao giờ có kinh phí cho việc cải tiến sự hiểu biết về cách quản lý và tổ chức lao động của con người. Đó chính là điều chúng ta phải học tập người Nhật. Trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc tổ chức công ty của phương Tây và thấu hiểu tính cách con người Nhật Bản họ đã không chạy theo việc giải toả sức sáng tạo cá nhân khuyến khích phát triển thị trường lao động tự do như tư bản phương Tây mà phá huy tối đa sức mạnh cộng đồng. Họ dung hợp quy luật cạnh tranh "cá lớn nuốt cá bé" của kinh doanh tư bản chủ nghĩa với những chuẩn mức trương trợ cộng đồng vốn có trong xã hội nông nghiệp để xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con tồn tại và phát triển trong sự nương tựa vào nhau được phân công rành mạch rõ ràng theo nguyên tắc ie (gia đạo). Để xây dựng mô hình này các công ty Nhật đã sử dụng hàng loạt các chuẩn mực của văn hoá truyền thống.

Khác với phương Tây các xí nghiệp Nhật Bản xây dựng chế độ làm việc suốt đời và khuyến khích cha truyền con nối. Với cách làm này họ đã biến các công ty thành một tập thể mà mỗi thành viên đều thấy mình phải đem hết tài năng và công sức ra để xây dựng. Trong từng xí nghiệp giá trị tập thể luôn luôn được đề cao không phải bằng khẩu hiệu mà bằng cơ chế điều tiết. Một trong những biểu hiện rõ nhất mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng đề cập là chế độ quyết định tập thể (ringi). Khi cần có một quyết định quan trọng lãnh đạo xí nghiệp tạo điều kiện để tất cả các thành viên đều có cơ hội tham gia. Ông chủ yếu giấu kín ý định của mình giao việc làm quyết định cho bộ phận hữu quan. Người nhận trách nhiệm khởi thảo thường là một nhân viên trẻ ít kinh nghiệm nhất. Rất lo lắng với công việc được giao anh ta sẽ phải hỏi han thăm dò ý kiến rất nhiều người sau đó đem hết năng lực ra để thực hiện nhiệm vụ. Quyết định khởi thảo được truyền tay tất cả mọi thành viên để góp ý kiến theo nguyên tắc từ dưới lên. Nếu ai không có ý kiến gì thì biểu thị sự đồng tình bằng việc đóng con dấu cá nhân của mình. Có người đã từng nhận xét rằng dường như người Nhật không quan tâm tới việc cần bao nhiêu thời gian để đi tới quyết định dù là nhỏ nhất mà họ chú ý nhiều tới việc làm thế nào để sau khi có quyết định công việc được triển khai nhanh và chắc chắn thành công. Quá trình xây dựng quyết định theo kiểu ringi rất mất thời gian kinh phí và sức lực nhưng người Nhật lại cho đó là cách làm độc đáo chẳng những phù hợp với tính cách của họ mà thực tế có hiệu quả rất cao. Trước hết người ta có thể thực sự tranh thủ được trí tuệ của tất cả mọi thành viên. Xây dựng quyết định từ dưới lên chính là cách để người sau yên tâm góp ý mà chẳng có gì phải ngần ngại. Nhưng điều quan trọng hơn là tất cả mọi thành viên đều có cảm giác mình được trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng quyết định. Khi đem ra triển khai chắc chắn sẽ có sự thống nhất và quyết tâm cao của cả tập thể. Mặt khác đây còn là phương thức đào tạo cán bộ trẻ. Giao ngay cho anh ta một công việc nặng nề để anh ta phải cố gắng để anh ta hiểu rõ hạn chế của mình và để anh phải khiêm tốn học hỏi những người có kinh nghiệm. Nhưng đồng thời cũng qua việc khởi thảo ringi người ta có thể nhanh chóng phát hiện được tài năng.

Lối trả lương ở Nhật Bản cũng khá đặc biệt. Nếu như ở Mỹ và Tây Âu trong hợp đồng người lao động có thể biết rõ tất cả các khoản mà họ được hưởng ngay từ đầu thì ở Nhật Bản sự rõ ràng ấy chỉ thể hiện ở "phần cứng" và kèm theo đó là một nguyên tắc để mở: nếu công ty trong năm làm ăn phát đạt thì mỗi thành viên sẽ còn được những khoản tiền thường với giá trị tuỳ thuộc vào mức độ thành công của công ty. Chính nguyên tắc mở này là động lực kích thích mọi người dốc sức làm việc vì lợi nhuận của công ty thành công của công ty gắn chặt với lợi ích thiết thân của chính mình. Cùng với những biện pháp kích thích vật chất các công ty Nhật rất chú trọng xây dựng triết lý công ty tạo dựng văn hoá công ty lấy đó là bệ đỡ tinh thần cho mối quan hệ thân mật gắn bó với nhau trong công việc cạnh tranh hơn hẳn các công ty của Mỹ và Tây Âu. Và mặc dù phương Tây nghiên cứu và hiểu rất rõ tác dụng của kiểu tổ chức này nhưng họ không thể áp dụng được vì nó chỉ có thể xây dựng thành công trên nền văn hoá Nhật Bản.

Nhìn trên bình diện rộng lớn hơn Người Nhật đã khai thác triệt để những truyền thống tích cực của văn hoá truyền thống. Trong số đó phải kể đến hiếu học và trọng học. Trình độ nguồn nhân lực Nhật Bản được xếp vào loại cao nhất thế giới và là một nhân tố cực kỳ quan trọng dẫn tới thành công của họ trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá. Kết quả đó không tách rời sự đầu tư lớn cho giáo dục và chính sách cưỡng bức giáo dục ngày càng gia tăng của chính phủ Nhật Bản.

Có thể kể thêm nhiều ví dụ cụ thể khác về việc người Nhật chú trọng khai thác yếu tố con người trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhưng điều quan trọng hơn là tìm hiểu xem họ có xử lý vấn đề này theo quan niệm và phương thức nào. Qua nhiều dịp trao đổi với các nhà khoa học Nhật nhận thức họ có một qua niệm khá độc đáo về con người và sản phẩm sáng tạo ra nó - văn hoá. Họ cho rằng văn hoá như một thứ gien của một dân tộc "di truyền" từ thế hệ này sang thế hệ khác và là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Giống như trong đời sống sinh học gien - văn hoá không phải nhất thành bất biến mà được hình thành do một quá trình lâu dài trong ứng xử hằng xuyên (counteration)/thích ứng (adaptation) với môi trường tự nhiên môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử. Gien - văn hoá có thể biến đổi thậm chí đột biến. Nhưng đã gien thì luôn chứa những nhân tố trường tồn và dù có biến đổi cũng phải theo những nguyên tắc mà gien đó quy định. Với ý nghĩa đó một mặt phải coi bản sắc văn hoá là một thực thể khách quan muốn khác đi cũng không dễ gì. Nhưng mặt khác không nên coi đó là cái ngưng đọng bất biến. Bởi vậy một cách làm phù hợp với khoa học là nghiên cứu để hiểu thật thấu đáo bản sắc văn hoá dân tộc để rồi chủ động tác động vào những mặt hạn chế để chúng cũng có thể phục vụ được cho cuộc sống hiện tại. Ngày nay người Nhật gọi đó là xử lý văn hoá theo quan điểm Hightech (công nghệ cao). Theo quan điểm này với trình độ của công nghệ hiện đại ngay cả rác thải cũng có thể tái chế lại thành vật dụng hữu ích huống hồ những giá trị văn hoá đã từng được kết tinh truyền lại từ bao thế hệ. Hãy khoan nhận định đó là tích cực hay tiêu cực mà nghiên cứu kỹ xem chúng có thể giúp ích được gì và cần phải xử lý thế náo để làm cho chúng thành hữu dụng.

Nêu lên một số suy nghĩ trên đây nhằm rút ra một nhận xét có tính phương pháp luận: con người là vốn quý và mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá riêng của mình. Kinh nghiệm Nhật Bản cho thấy nếu biết khai thác tối đa nguồn lực con người biến tất cả những gì có trong di sản văn hoá dân tộc thành lợi thế trong cạnh tranh quốc tế thì sức mạnh của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá sẽ tăng lên gấp bội.

 

 

 

More...

Câu 03: Thảo luận_Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam

By luctranvan

Kỳ 1: Biến động Đông Á và lợi thế so sánh của Việt Nam Công nghiệp hóa hiện đại hóa là chiến lược dài hạn của Việt Nam với mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Nhưng trong giai đoạn hiện nay con đường công nghiệp hóa của Việt Nam đang mở ra trong một bối cảnh khu vực và quốc tế như thế nào? Để thành công trên con đường này Việt Nam cần một chiến lược như thế nào? Những biện pháp chính sách để thực hiện chiến lược đó là gì? Kinh nghiệm thực hiện chính sách công nghiệp của Nhật Bản Hiện tại Nhật Bản đang có khó khăn trong việc phát triển kinh tế nhưng trong quá khứ họ đã thực hiện thành công công nghiệp hoá hiện đại hoá đưa đất nước đứng vào hàng đầu trong đội ngũ các cường quốc. Sự thành công của Nhật Bản đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các nước khu vực ASEAN nhất là những nước bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá muộn hơn. I. Chính sách công nghiệp Nhật Bản việc lựa chọn đầu tư phát triển cho ngành nghề lĩnh vực và các biện pháp cơ bản để phát triển. Thông thường chính sách công nghiệp sẽ thiết kế theo hướng bắt đầu từ các ngành sử dụng nhiều sức lao động (ví dụ ngành Dệt-may Da-giầy Than...) tiến tới các ngành sử dụng nhiều vốn kỹ thuật công nghệ đắt tiền (ví dụ ngành sản xuất ô tô đóng tàu máy cái) từ lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp đến các lĩnh vực có Công nghiệp hóa hiện đại hóa là chiến lược dài hạn của Việt Nam với mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Nhưng trong giai đoạn hiện nay con đường công nghiệp hóa của Việt Nam đang mở ra trong một bối cảnh khu vực và quốc tế như thế nào? Để thành công trên con đường này Việt Nam cần một chiến lược như thế nào? Những biện pháp chính sách để thực hiện chiến lược đó là gì? Thách thức và cơ hội ở Đông Á Trong nửa sau thế kỷ XX dòng thác công nghiệp đã lan nhanh cả bề sâu và bề rộng tại Đông Á và các nước trong vùng này nối đuôi nhau trong quá trình phát triển. Vì điều kiện lịch sử Việt Nam đã mất phần lớn của nửa sau thế kỷ này về phương diện phát triển kinh tế. Công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam hội nhập vào làn sóng công nghiệp trong khu vực từ đầu thập niên 1990 nhưng vào đầu thế kỷ XXI giữa Việt Nam và các nước lân cận còn một khoảng cách lớn về trình độ phát triển. Mặt khác hiện nay vẫn còn hơn 60% lực lượng lao động còn trong nông nghiệp công nghiệp mới thu hút chỉ hơn 10% số lao động có việc làm trên toàn quốc. Ngoài ra còn có hơn 400.000 lao động đang làm việc ở nước ngoài trong đó nhiều người làm việc trong những điều kiện khó khăn nên nếu trong nước có nhiều cơ hội làm việc đa số họ sẽ không chọn con đường lao động ở xứ người. Như vậy Việt Nam phải đẩy mạnh công nghiệp hóa để phát triển nhanh hơn để thu hút lao động nhiều hơn tạo tiền đề rút ngắn khoảng cách với các nước. Công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên tạo ra công ăn việc làm còn góp phần lớn vào việc thực hiện công bằng xã hội. Nhưng công nghiệp hóa Việt Nam sẽ trực diện những thách thức nào và cơ hội nếu có sẽ đến từ đâu? Thương trường của Việt Nam đang mở rộng ra khắp thế giới. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO khuynh hướng này sẽ càng mạnh hơn. Tuy nhiên có thể nói trong giai đoạn trước mắt thách thức trực tiếp và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là ở vùng Đông Á. Tại đây hai trào lưu đang nổi cộm và sẽ tác động đến sự phát triển của công nghiệp Việt Nam đó là sự biến động trong làn sóng công nghiệp Đông Á và khuynh hướng tự do thương mại trong vùng. Hiểu đúng tính chất và tác động của hai trào lưu này để xác định được phương hướng chiến lược cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới là vấn đề tối quan trọng của kinh tế Việt Nam hiện nay. Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động như đồ điện điện tử gia dụng và các loại máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân điện thoại di động... và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề các điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực. Phân tích bản đồ kinh tế Đông Á cho thấy Việt Nam đang đi sau khá xa các nước chung quanh về trình độ phát triển công nghiệp thể hiện trong sự cách biệt về tỷ lệ hàng công nghiệp đặc biệt là tỷ lệ sản phẩm máy móc các loại trong tổng xuất khẩu thể hiện trong chỉ số cạnh tranh của những ngành công nghiệp chủ yếu và trong cơ cấu phân công lao động giữa Việt Nam với các nước này. Ngoài ra Việt Nam phải nhập siêu nhiều với hầu hết các nước đó. Không kể một số nước mới gia nhập ASEAN Việt Nam là nước đi sau cùng trong quá trình công nghiệp hóa ở vùng Đông Á. Nhưng chiến lược đuổi bắt của Việt Nam trong quá trình đó đang trực diện hai thách thức lớn: Thứ nhất là ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc. Kinh tế Trung Quốc vừa lớn về quy mô vừa nhanh về tốc độ tăng trưởng giai đoạn phát triển và cơ cấu tài nguyên cơ cấu kinh tế lại tương đối gần với Việt Nam. Trung Quốc ngày càng cạnh tranh mạnh trong hầu hết các loại hàng công nghiệp. Thách thức thứ hai là mặc dù cơ cấu và sức cạnh tranh của công nghiệp còn yếu Việt Nam phải sớm thực hiện tự do hóa thương mại với các nước trong khu vực. Đến nửa sau của năm 2006 về căn bản phải hoàn thành chương trình cắt giảm thuế trong khuôn khổ thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và chậm lắm là năm 2015 phải hoàn thành chương trình tự do thương mại với Trung Quốc trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa nước này với khối ASEAN. Đối với Việt Nam sự lớn mạnh của kinh tế Trung Quốc đang trở thành một thách thức lớn và FTA Trung Quốc-ASEAN sẽ làm cho thách thức đó càng mạnh hơn. Mặt khác AFTA và sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc không phải chỉ là thách thức mà còn là cơ hội cho thị trường của hàng xuất khẩu Việt Nam (năm 2004 ASEAN nhập khẩu hơn 450 tỷ và Trung Quốc nhập khẩu 561 tỷ USD) nhất là trong thể chế tự do thương mại. Tuy nhiên hiện nay Nhật Bản Hàn Quốc và các nước ASEAN đã phát triển là những nước chủ yếu tận dụng được cơ hội của thị trường Trung Quốc. ASEAN thì là nơi tranh giành thị phần giữa Nhật Hàn Quốc Trung Quốc Đài Loan... Việt Nam mới chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc và ASEAN hàng nguyên liệu và nông phẩm; hàng công nghiệp thì rất ít. Để giảm thách thức và tận dụng được cơ hội do Trung Quốc và ASEAN mang lại Việt Nam phải chuyển dịch nhanh cơ cấu xuất khẩu sang các nước này phải có khả năng cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng công nghiệp cạnh tranh được trên thị trường khu vực và thế giới. Muốn vậy phải xác định được những ngành có lợi thê so sánh chuyển hướng chiến lược cho phù hợp với tình hình mới va tận dụng ngoại lực để vừa làm tăng nội lực vừa nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh. Tìm lợi thế so sánh động và chuyển hướng chiến lược Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế có ngay bây giờ có ngành đã được phát huy cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế nhưng cũng có ngành chưa được phát huy do môi trường hoạt động của Doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Lợi thế so sánh động là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ về nguồn nhân lực và khả năng tích lũy tư bản cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện thực. Việt Nam cần chuyển chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc mà biện pháp cụ thể là giảm giá thành những sản phẩm đó bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện bộ phận. Để dễ phân tích ta có thể chia các ngành công nghiệp thành năm nhóm: Nhóm A là những ngành có hàm lượng lao động cao chủ yếu là lao động giản đơn như vải vóc quần áo giày dép dụng cụ lữ hành v.v... Nhóm B là những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều nguyên liệu nông lâm thủy sản như thực phẩm gia công các loại đồ uống v.v.. Nhóm C là những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản như thép hóa dầu luyện nhôm... Nhóm D là những ngành có hàm lượng lao động cao chủ yếu là lao động lành nghề lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau như đồ điện điện tử gia dụng xe máy máy bơm nước và các loại máy móc khác các loại bộ phận linh kiện điện tử v.v.. Nhóm E là những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như máy tính xe hơi máy công cụ các linh kiện bộ phận điện tử cao cấp v.v... Mỗi ngành lại có thể chia thành ba giai đoạn chính: thượng nguồn (up-stream) gồm các công đoạn nghiên cứu - triển khai thiết kế sản xuất các bộ phận linh kiện chính; trung nguồn (mid-stream) là công đoạn lắp ráp gia công; hạ nguồn (down-stream) là tiếp thị xây dựng mạng lưới lưu thông khai thác và tiếp cận thị trường. Ba giai đoạn này kết hợp thành một chuỗi giá trị (value-chain) của một sản phẩm. Trên thị trường thế giới Trung Quốc đang cạnh tranh mạnh trong nhóm A và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Thái Lan và các nước ASEAN đã phát triển có lợi thế trong nhóm B và các sản phẩm lắp ráp trong nhóm D. Cả Trung Quốc và các nước ASEAN phát triển đang tiến lên khá cao ở thượng nguồn của chuỗi giá trị trong các ngành thuộc nhóm D. Nhật và các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs) như Hàn Quốc Đài Loan... còn duy trì lợi thế so sánh trong nhóm E nhưng tăng cường mạng lưới sản xuất khắp cả vùng Đông Á do đó Trung Quốc và các nước ASEAN cũng tham gia ngày càng sâu vào các ngành trong nhóm này. Nói chung các nhóm D và E gồm những ngành liên quan đến các loại máy móc và đang ngày càng đóng vai trò chủ đạo trong sự phân công ở khu vực Đông Á. Nhóm A và nhóm B là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh. Nhưng trong hai ngành chủ lực là may mặc và giày dép hiện nay Việt Nam mới tập trung ở trung nguồn của chuỗi giá trị và chủ yếu dựa vào lao động giản đơn. Các giai đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị phần lớn phụ thuộc nước ngoài. Việt Nam cần nỗ lực tiến về thượng và hạ nguồn mà việc liên kết chiến lược với các công ty nước ngoài như sẽ nói dưới đây là một trong những biện pháp hữu hiệu. Nhưng dù sao các ngành này vẫn là nhóm thuộc các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh tĩnh. Vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động. Phát triển các ngành này sẽ làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất và xuất khẩu trong tương lai không xa. Vấn đề khẩn cấp đối với Việt Nam hiện nay là xác định được những ngành hội đủ hai điều kiện đó và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề các điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực. Phân tích nhu cầu thế giới và tham khảo sự đánh giá của các công ty đa quốc gia về tiềm năng của Việt Nam tôi cho rằng các ngành thuộc nhóm D và một phần trong nhóm E đặc biệt là đồ điện điện tử gia dụng và các loại máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân điện thoại di động là những ngành có đủ hai điều kiện nêu trên. Nhưng để đẩy mạnh phát triển các ngành này Việt Nam phải giải quyết vấn đề cơ bản hiện nay là sự yếu kém của các ngành công nghiệp phụ trợ. Phải xem đây là mũi đột phá chiến lược và dồn tất cả các năng lực về chính sách cho mũi đột phá này. Chẳng hạn rà soát lại các doanh nghiệp nhà nước để tìm ra các đơn vị sản xuất có tiềm năng cung cấp các bộ phận linh kiện phụ kiện với chất lượng và giá thành cạnh tranh từ đó tăng cường hỗ trợ về vốn công nghệ v.v. để tiềm năng trở thành hiện thực; xây dựng chế độ tưởng thưởng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa kể cả doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp có vốn nước ngoài thành công trong việc sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ v.v.. Nhưng quan trọng hơn cả là phải chuyển hướng chiến lược lien quan đến các ngành nhóm D và E. Chính sách hiện nay của Việt Nam là bảo hộ các sản phẩm nguyên chiếc (tivi tủ lạnh xe máy xe hơi v.v. ) với thuế quan cao và buộc các công ty lắp ráp tăng dần tỷ lệ nội địa hoá đối với các sản phẩm công nghiệp phụ trợ. Nói chung đây là chiến lược thay thế nhập khẩu mà biện pháp là thiết lập hàng rào quan thuế khá cao ở cả sản phẩm nguyên chiếc và bộ phận linh kiện. Nhưng với việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA Việt 53 Nam sẽ phải thực hiện tự do hóa thương mại với ASEAN từ nửa sau năm 2006. Tại các nước ASEAN đã phát triển đặc biệt là Thái Lan và Malaixia quy mô sản xuất của các loại hàng công nghiệp đó rất lớn nên giá thành rẻ hơn Việt Nam nhiều. Một khi được tự do nhập khẩu vào Việt Nam sản phẩm cùng loại của ta sẽ bị đẩy lùi. Bộ phận linh kiện nhập từ ASEAN cũng sẽ rẻ vì được miễn thuế nhưng những linh kiện bộ phận nhập từ các nước khác vẫn chịu phí tổn cao nếu chính sách của Việt Nam không thay đổi. Tình hình này có hể đưa đến khả năng các công ty đa quốc gia di chuyển những cơ sở ắp ráp tại Việt Nam sang các nước ASEAN khác. Để tránh trường hợp này Việt Nam cần chuyển ngay hiến lược từ thay thế nhập khẩu ang xúc tiến xuất khẩu những sản phẩm nguyên chiếc mà biện pháp cụ thể là giảm giá thành những sản phẩm đó bằng cách bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện bộ phận. Nói cách khác nên dùng cơ chế thị trường hay cho chính sách cưỡng chế nội địa hoá để xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ. Tại sao như vậy? Để xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ trong quá khứ cũng có nhiều nước đã áp dụng biện pháp nâng cao thuế suất linh kiện nhập khẩu nhưng chính sách này phải đồng thời đi liền với chính sách bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc. Việt Nam ngày nay không thể bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc thì phải theo một chiến lược khác. Chính sách tối ưu hiện nay là phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh để xuất khẩu được sản phẩm nguyên chiếc từ đó quy mô sản xuất trong nước tăng nhanh tạo điều kiện để các công ty cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đầu tư lớn. Đồ điện điện tử gia dụng là những loại máy móc gồm nhiều công đoạn nên có sự phân công hàng ngang giữa các nước trong việc sản xuất và cung cấp cho nhau các linh kiện bộ phận. Tuy nhiên phần đông công nghệ sản xuất đã tiêu chuẩn hóa và ít sai biệt về độ sâu lao động hay tư bản. Do đó các doanh nghiệp có khuynh hướng tích cực nội địa hóa linh kiện bộ phận khi lượng sản xuất đạt quy mô kinh tế. Thêm vào đó khi sản phẩm nguyên chiếc sản xuất cả cho thị trường thế giới thì các công ty lắp ráp phải thường xuyên thay đổ cơ năng mẫu mã kiểu dáng của sản phẩm. Điều này buộc họ phải luôn bảo đảm một sự cơ động nhu nhuyến trong việc quản lý dây chuyền cung cấp các sản phẩm phụ trợ và do đó phải tăng tỷ lệ nội địa hóa chủ động tham gia xây dựng các cụm công nghiệp. Tóm lại ngay từ bây giờ Việt Nam phải chủ động chuyển sang chiến lược hướng ngoại cho tự do nhập khẩu linh kiện bộ phận và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nguyên chiếc. Sau khi hoàn thành chương trình thực hiện AFTA chính sách thay thế nhập khẩu hiện nay sẽ phả thay đổi nhưng đó là thay đổi thu động và chỉ áp dụng với các nước ASEAN. Gia nhập WTO cũng không bắt buộc Việt Nam thay đổ chính sách bảo hộ bằng thuế. Va như đã phân tích chính sách bảo hộ hiện nay sẽ không đối phó được với thách thức AFTA. Chỉ có con đường là chủ động thay đổi chính sách từ bây giờ. Trong thời đại toàn cầu hoá và khu vực hoá phải co chiến lược mới và chính sách biện pháp thích hợp. phủ rất ít khi xác định các ngành mà xí nghiệp tư nhân cần phát triển trừ các ngành công nghiệp quân sự.) Với chiến lược như vậy sau chiến tranh thế giới thứ II – từ những năm 1950 khi đất nước đang phải gánh chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh Nhật Bản bắt đầu xây dựng những kế hoạch và chiến lược để khôi phục phát triển đất nước theo một “chính sách công nghiệp” gồm 6 nội dung: - Điều chỉnh sản xuất đầu tư - hiện đại hoá và sắp xếp lại ngành nghề lĩnh vực; - đẩy mạnh xuất khẩu; - Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) hiệu quả; - Triển khai chính sách về tài nguyên năng lượng; - Xây dựng và thực hiện đúng chính sách đối với doanh nghiệp xí nghiệp vừa và nhỏ. Thực hiện 6 nội dung này Chính phủ Nhật Bản đã đặt trọng tâm vào việc hướng dẫn các hoạt động công nghiệp bằng cách cung cấp thông tin về thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp chú trọng đến vấn đề cung cấp sức cạnh tranh các mặt hàng công nghiệp... Trên cơ sở đó đưa ra được bức tranh toàn cảnh cụ thể dự báo được triển vọng các mặt hoạt động công nghiệp. Để cụ thể hoá chính sách công nghiệp đề ra người Nhật đã xác định một loạt các biện pháp thực hiện. Trước hết Nhật Bản có chính sách ưu đãi thuế quan miễn thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc quan trọng tiên tiến mới (mà trong nước không sản xuất được) khi đã xác định rõ ngành lĩnh vực thời gian dành cho nó phát triển..; Có chính sách ưu đãi hoặc miễn thuế đối với các sản phẩm của những ngành mới ra đời như cơ khí cơ bản phụ tùng cơ khí hoá dầu cơ khí điện tử…; Thực hiện giảm thuế khấu hao luỹ tiến đối với các thiết bị sản xuất; Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển; Thiết lập sự phối hợp liên thông chặt chẽ giữa Chính phủ và giới công nghiệp. Cụ thể là thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển như nới lỏng các hạn chế nhập khẩu đối với các hàng sơ chế và vốn cần thiết cho xuất khẩu giảm các hạn chế đối với các ngành (hạn chế số lượng nhập khẩu một số loại vật tư hạn chế về thu hút vốn và công nghệ kỹ thuật nước ngoài hạn chế sử dụng ngoại tệ…) nhất là những ngành mũi nhọn cần phát triển là một biện pháp tích cực tạo cú hích mạnh cho các ngành đi lên mạnh mẽ (Vì chưa có công nghệ nguồn nên từ năm 1950 – 1974 Nhật Bản có hơn 15.000 vụ nhập khẩu kỹ thuật với gần 70% nhập từ Mỹ tiết kiệm được hàng trăm tỷ USD nâng ngành công nghiệp chế tạo lên tầm cỡ thế giới) cho vay vốn với lãi suất thấp để phát triển các ngành: Khai thác than gang thép điện lực đóng tàu… thu hút công nghệ kỹ thuật mới xoá bỏ sự lạc hậu chênh lệch về kỹ thuật so với thế giới; tăng cường khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D) của các xí nghiệp. Đồng thời Nhật Bản cho phép ưu đãi thuế đối với tập thể liên doanh các xí nghiệp bỏ vốn nghiên cứu thí nghiệm; trợ cấp vốn cho xí nghiệp tư nhân có dự án công trình có giá trị kinh tế - xã hội cao; cấp vốn cho các nghiên cứu uỷ thác về lĩnh vực năng lượng máy tính vật liệu mới công nghệ sinh học; Cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin về định hướng cơ cấu công nghiệp và những thay đổi trong quan hệ quốc tế. Nhờ sự hướng dẫn dự báo kịp thời của Chính phủ nên nhiều doanh nghiệp tránh được sự phá sản. Ví dụ Công ty Thép Nippon Steel nhờ tham khảo các báo cáo nghiên cứu định hướng đó đã chuyển ngay sang kinh doanh máy tính điện tử hàng chục ngàn công nhân đáng lẽ bị thất nghiệp lại được đào tạo lại chung sức xây dựng thành hãng máy tính mạnh… II. Bài học về kinh nghiệm thực hiện chính sách công nghiệp Nhật Bản đối với các nước trong khối ASEAN. Thực chất việc thiết lập và thực hiện chính sách công nghiệp là xây dựng một lộ trình để đẩy mạnh công nghiệp hoá phát triển kinh tế vững chắc. Là những nước đi sau và trình độ chênh lệch nên các nước asean phải tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể của mình để lựa chọn ngành nghề phát triển. Ví dụ các nước ASEAN không cần máy móc theo thứ tự lựa chọn ngành nghề phát triển mà có thể đồng thời ưu tiên một lúc nhiều ngành nghề liền tuỳ theo khả năng của nguồn lực và sức cạnh tranh sản phẩm của quốc gia. Chẳng hạn trong giai đoạn hiện nay Việt Nam và các nước nghèo như Lào Campuchia có thể đồng thời phát triển ngành hàng sản xuất thay thế nhập khẩu có hiệu quả tiết kiệm ngoại tệ và các ngành sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động thu nhiều ngoại tệ. Tuy nhiên phải chú ý để một số nước ASEAN không sản xuất trùng lặp mặt hàng dẫm chân lên nhau trong khi có nước đã có thương hiệu nổi tiếng thị trường ổn định mà cứ cố tình sản xuất cùng mặt hàng sẽ khó cạnh tranh. Mặt khác là những nước đi sau khi tính toán lĩnh vực nào nếu nhập khẩu còn rẻ hơn bỏ vốn ra đầu tư sản xuất thì phải cân nhắc để tránh lãng phí vô ích. Đối với một số ngành lĩnh vực sản xuất khi cung đã vượt quá cầu trong nước thì không nên coi trọng mở rộng đầu tư cho sản xuất mà phải chuyển sang vấn đề tiêu thụ tức là liên quan nhiều đến các khâu trung gian như vận chuyển chế biến bảo quản bán buôn bán lẻ dịch vụ tư vấn quảng cáo xây dựng thương hiệu. Do đó để có thể đi đúng hướng cũng như phát triển nền kinh tế bước vào CNH – HĐH các nước ASEAN cần lưu ý những vấn đề sau: * Việc xây dựng tổ chức thực hiện chính sách công nghiệp đã được Nhật Bản tiến hành trong môi trường điều kiện văn hóa - xã hội tương thích. Vì vậy các nước ASEAN với những đặc thù về văn hóa - xã hội đa dạng cần tính đến bài học của Nhật Bản là xã hội tuân thủ luật pháp mọi chính sách đều triệt để chuẩn bị kỹ cả khâu nhận thức đối với doanh nghiêp nhà chức trách công chúng tạo một niềm tin thống nhất trong mọi người. Thiếu những yếu tố này chắc chắn dù chính sách công nghiệp tốt đến mấy cũng khó thành công. Do vậy đối với các nước ASEAN mà tính thống nhất của nhận thức xã hội chưa cao vẫn còn biểu hiện của sự manh mún cục bộ vị kỷ… có thể trong chính sách công nghiệp nên lồng ghép một chính sách nhỏ hơn nhưng gắn kết lại với nhau đó là chiến lược truyền thông để quảng bá sâu rộng giáo dục nâng cao và thống nhất nhận thức toàn xã hội. Song cần chú ý rằng khi lập ra MITI (Bộ Công nghiệp - Thương mại) Nhật Bản đã gắn ngay lĩnh vực phát triển công nghiệp sản xuất với thương mại nghĩa là công nghiệp hóa gắn buôn bán xuất khẩu gắn nhập khẩu. Trong chính sách công nghiệp Nhật Bản thường thiết kế cơ cấu nhập khẩu sao cho phù hợp với định hướng xuất khẩu. Cơ cấu nhập khẩu hiệu quả của họ gồm 5 nhóm hàng hóa là :Bằng phát minh sáng chế; Máy móc thiết bị công nghệ; Nhiên liệu nguyên vật liệu; Hàng tiêu dùng và các dịch vụ khác... * Một nền kinh tế hướng ngoại thường có cơ chế nhập khẩu đủ cả 5 nhóm hàng dĩ nhiên là tỷ trọng các nhóm có thể khác nhau tuỳ từng giai đoạn. Thực tế cho thấy nếu nước nào chỉ dùng ngoại tệ do xuất khẩu tài nguyên để mua công nghệ máy móc thì dễ rơi vào tình trạng phải mua máy móc cũ và dần thành “bãi rác công nghiệp” của các nước bán máy thiết bị. Vì thế cần phải gạt bỏ chính sách nhập 3 nhóm mà các nước mới phát triển hay dùng: máy móc nguyên vật liệu - nhiên liệu hàng tiêu dùng học bài học Nhật Bản khi mới phát triển sau chiến tranh thế giới thứ II: Tích cực nhập khẩu bằng sáng chế phát minh các dịch vụ nên các máy móc thiết bị nguyên vật liệu được sử dụng hết công suất nhanh chóng có sức cạnh tranh quốc tế. Vấn đề nhập hàng tiêu dùng cũng phải được chú ý không nên để ở tỷ lệ thấp và thuế cao trong tổng giá trị hàng nhập khẩu vì sẽ dẫn đến tình trạng buôn lậu tham nhũng. Trong nhập khẩu phải tính đến các dịch vụ gắn liền với phát triển công nghiệp như dịch vụ tài chính bảo hiểm ngân hàng tư vấn viễn thông… * Muốn xây dựng và thực hiện tốt chính sách công nghiệp cần chú ý xây dựng một cách đồng bộ các luật quy định liên quan đến phát triển công nghiệp phù hợp với khu vực và quốc tế. Trong tình hình hiện nay từ năm 2003-2008 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN cơ bản được hoàn thành thị trường mỗi nước trong ASEAN và cả khu vực với các đối tác Nhật Bản Trung Quốc Hàn Quốc sẽ có những bước phát triển vì vậy các nước ASEAN nhất là những nước phát triển cần nhanh chóng xây dựng đầy đủ hoàn thiện các luật quy đinh theo chuẩn quốc tế về thuế quan hải quan xuất nhập cảnh luật kiểm soát độc quyền luật về thị trường bất động sản thị trường vốn luật chống bán phá giá luật đầu tư thương quyền… Ngoài ra các nước ASEAN phải dùng các lĩnh vực khác để hỗ trợ thúc đẩy công nghiệp phát triển và cần có lĩnh vực riêng mang đặc thù mỗi nước. Bài học kinh nghiệm từ chính sách công nghiệp Nhật Bản đến nay vẫn có thể tham khảo đó là chính sách về thuế thuế quan nới lỏng tiến tới xoá dần các hạn chế hạn ngạch phối hợp tốt giữa Chính phủ với doanh nhân… và đặc biệt là phát huy vai trò cung cấp thông tin phân tích dự báo của các chương trình trong chính sách công nghiệp. * Hiện nay trong các nước ASEAN có nước đã thực hiện đến đoạn cuối của Bộ chính sách công nghiệp bước vào thời kỳ chọn lĩnh vực phát triển là các ngành sản xuất hàng xuất khẩu kỹ thuật mũi nhọn. Singapore chẳng hạn đã chọn công nghiệp mũi nhọn là công nghiệp sinh học. Năm 2002 sức sản xuất của ngành này ở Singapore tăng 48% đạt 9 7 tỷ Đô la Singapore (tương đương 5 61 tỷ USD). Dự báo đến năm 2005 Ngành trên sẽ đạt 12 tỷ đô là Singapore trong đó công nghiệp sinh học phục vụ ngành Dược sẽ đạt 8 tỷ Đô la Singapore. Và vì vậy trong chính sách công nghiệp họ sẽ giảm thị phần của ngành công nghiệp chế tạo máy thay vào đó là công nghiệp sinh học. Trong lúc đó một số nước ASEAN đã tiến đến giữa lộ trình và cũng có những nước vẫn ở thời kỳ đầu. Do không đồng đều nên mỗi nước phải áp dụng kinh nghiệm của Nhật Bản tùy theo hoàn cảnh của mình lại có thể học tập lẫn nhau để hoàn thiện cải tiến chính sách công nghiệp của cả khối ASEAN tạo thuận lợi cho sự điều phối hợp tác hỗ trợ cùng phát triển.

More...